Ghép tủy ở Việt Nam thành tựu thần kỳ

Thứ Năm, 07/02/2008, 15:00
Có lẽ trong suốt cuộc đời mình, anh Dương Lý Bảo không bao giờ quên được buổi sáng ngày 15/7/1995 – buổi sáng mà anh là người đầu tiên trong lịch sử y học Việt Nam, được đưa vào phòng ghép tủy tại Bệnh viện Truyền máu, huyết học TP HCM (BVTMHH). Trước đó, anh bị bệnh bạch cầu kinh dòng hạt – một dạng ung thư máu ác tính, sự sống chỉ còn tính được từng ngày.

Đúng 9h, êkíp ghép tủy gồm Phó giáo sư – bác sĩ Trần Văn Bé, Giám đốc BVTMHH, bác sĩ Bỉnh (nay là Giám đốc BVTMHH), bác sĩ Huỳnh Nghĩa (nay là tiến sĩ), bác sĩ Tuấn cùng một số kỹ thuật viên, điều dưỡng và chuyên gia Đài Loan bắt đầu tiến hành những thao tác phức tạp.

Phó giáo sư - bác sĩ Trần Văn Bé giải thích: “Trường hợp anh Bảo chúng tôi gọi là dị ghép, nghĩa là lấy tế bào gốc từ tủy xương của người anh ruột Bảo, ghép vào. Còn nếu lấy tế bào gốc của anh Bảo để ghép cho anh Bảo, thì gọi là tự ghép”.

Để thực hiện ca ghép tủy đầu tiên tại Việt Nam, BVTMHH đã chuẩn bị từ năm… 1992, bằng cách cử cán bộ đi tham quan, tìm hiểu tại một số bệnh viện chuyên ngành về cấy ghép nội tạng ở Pháp, Mỹ, Đức, Hồng Công, Đài Loan, đồng thời với việc chuẩn bị cơ sở vật chất.

Êkíp đầu tiên ghép tế bào gốc tại Bệnh viện truyền máu, huyết học.

Bên cạnh đó, lãnh đạo ngành y tế thành phố đã nhiệt tình ủng hộ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho BVTMHH thành lập Khoa Ghép tủy xương.

Phó giáo sư - bác sĩ Trần Văn Bé cho biết: “Cuối cùng, chúng tôi chọn Đài Loan làm nơi gửi người đến học tập vì  ở đây có nhiều điều kiện tương tự như Việt Nam”.

Tuy nhiên, việc cấy ghép chưa hẳn là đã suôn sẻ bởi lẽ theo nhận xét của một số chuyên gia Pháp, thì “nhanh nhất phải 10 năm nữa, Việt Nam mới có thể thực hiện được kỹ thuật này”.

Vì thế, ngay trong nội bộ BVTMHH, cũng có những ý kiến tỏ ra nghi ngờ về sự thành công của việc cấy ghép. Tiến sĩ – bác sĩ Huỳnh Nghĩa cười: “Hồi ấy, đã có tin truyền miệng, rằng nếu thất bại thì thầy Bé sẽ… ra đi” bởi trước khi ghép, anh Dương Lý Bảo đã được cho dùng thuốc để diệt sạch tủy xương.

Tiếp theo, êkíp cấy ghép đặt một đường truyền theo tĩnh mạch trung tâm, rồi tế bào gốc lấy từ tủy xương của người anh ruột Bảo, được đưa vào. Nguy cơ lớn nhất ở đây là tế bào gốc không “bám” được - mà từ chuyên môn gọi là “thải ghép”, chưa kể đến nhiễm trùng tủy xương.

Đến đây, xin được nói một chút về chuyện cấy ghép. Hiểu một cách nôm na, tế bào máu - bao gồm hồng huyết cầu, bạch huyết cầu và tiểu cầu được hình thành từ tủy xương rồi sau một thời gian sống nhất định, những tế bào ấy chết đi và được cơ thể tự thay mới.

Tuy nhiên, nếu tủy xương chỉ sản sinh ra một dòng hồng cầu, bạch cầu hay tiểu cầu - hoặc nếu có sinh ra nhưng giảm nhiều dòng kết hợp, thì y học gọi đó là suy tủy.

Hiện tượng suy tủy dẫn đến các dòng máu thiếu tế bào máu và hậu quả là người ta mắc phải những chứng bệnh tương ứng với chức năng của từng loại tế bào, chẳng hạn như thiếu hồng cầu thì da dẻ xanh xao, khó thở, suy nhược…, thiếu bạch cầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng, còn thiếu tiểu cầu thì dễ bị chảy máu…

Ngay từ năm 1898, bác sĩ Paul Ehrlich đã mô tả bệnh suy tủy, và bác sĩ Charffard là người đầu tiên đặt tên cho nó là bệnh “thiếu máu ác tính giảm sinh”. Đến đầu thế kỷ XX, y học chia bệnh suy tủy làm hai nhóm: Nhóm bẩm sinh và nhóm mắc phải.

Nhóm bẩm sinh thường ít gặp, điển hình là bệnh thiếu máu Fanconi. Riêng suy tủy mắc phải hầu hết do virút, do hóa chất mà cụ thể là một số thuốc trị bệnh như Chloramphenicol (bệnh thương hàn, một vài bệnh đường ruột), nếu sử dụng liều 4gr/lần thì tỉ lệ suy tủy là 1/20 nghìn người, Quinacrin (trị bệnh sốt rét) tỉ lệ 1/40 nghìn người, Phenybutazone (bệnh viêm khớp) tỉ lệ 1/100 nghìn người. Với hóa chất, Benzen là một chất dung môi được dùng rộng rãi trong sản xuất đồ da, cao su… mà khi tiếp xúc, nó sẽ gây suy tủy.

Lịch sử ghép tủy được khởi đầu bởi nghiên cứu của Tiến sĩ Jacobson khi chiếu xạ cho chuột với liều gây tử vong, nhưng vẫn có thể cứu sống bằng cách truyền cho nó tế bào lá lách của chuột đồng chủng. Tuy nhiên, mãi đến năm 1960, ca ghép tủy đầu tiên trên chó mới được tiến hành, đồng thời với việc tìm ra các chất ức chế miễn dịch như Cyclophosphamide, Busulfan nên vào giai đoạn 1970 - 1980, người ta mới chính thức thực hiện việc ghép tủy - nhưng chỉ dừng lại ở những cặp sinh đôi, hoặc đồng gien HLA (hệ kháng nguyên tương đồng tổ chức).

Đến năm 1985, phương pháp loại bỏ lympo T trong dịch tủy trước khi ghép đã giúp kéo dài tuổi thọ tủy ghép, hạn chế việc đào thải. Nhất là khi y học phát hiện ra tế bào nguồn ở máu ngoại vi thì từ đây, việc ghép tủy bắt đầu được tiến hành đại trà.

Quay lại ca ghép tủy cho bệnh nhân Dương Lý Bảo, suốt những ngày sau đó, không riêng gì êkíp cấy ghép, mà hầu như cả BVTMHH đều hồi hộp theo dõi từng diễn tiến. Đã thế, 3 ngày sau khi cấy ghép cho Dương Lý Bảo, Phó giáo sư – bác sĩ Trần Văn Bé cùng các cộng sự lại mạnh dạn tiến hành ghép tủy cho 2 cháu – một 9 tuổi và một 7 tuổi, cả hai đều mắc bệnh thiếu máu bẩm sinh (thalasemie).--PageBreak--

Kết quả không phụ lòng mong đợi, anh Dương Lý Bảo đã khỏi bệnh hoàn toàn; còn 2 cháu bé, bệnh thiếu máu từ thể nặng đã chuyển sang thể nhẹ. Phó giáo sư - bác sĩ Trần Văn Bé cho biết: “Các ca đầu tiên, chúng tôi miễn phí hoàn toàn và hiện nay, anh Bảo vẫn sống khỏe mạnh ở Đồng Nai. Riêng 2 cháu, mỗi năm chỉ cần truyền máu một lần thay vì phải truyền hàng tuần như trước khi cấy ghép”.

Phó giáo sư Trần Văn Bé và tiến sĩ Huỳnh nghĩa đang trao đổi về một trường hợp bệnh nhi chuẩn bị ghép tế bào gốc.

Không chỉ dừng lại ở việc cấy ghép tủy xương, ngày 1/1/2002, BVTMHH đã tiến hành ghép tế bào gốc lấy từ máu cuống rốn – và đây cũng chính là ca cấy ghép đầu tiên ở Việt Nam bằng hình thức này. Hiện tại, trong kỹ thuật cấy ghép, BVTMHH có 3 loại sản phẩm: Một là, tế bào gốc từ tủy xương. Dịch tủy xương được chọc hút tại tủy xương của chính người bệnh - hoặc của người cho tủy rồi qua quá trình xử lý, được truyền lại cho người bệnh.

Hai là, tế bào gốc máu ngoại vi. Tiến sĩ - bác sĩ Huỳnh Nghĩa giải thích: “Máu được lấy từ tĩnh mạch của người cho rồi qua hệ thống máy móc xử lý để thu tế bào gốc, truyền cho bệnh nhân. Còn hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, thì trả lại người cho…”.

Sản phẩm thứ ba là, tế bào gốc từ máu cuống rốn. Cũng vẫn với phương pháp xử lý để thu tế bào gốc, đây là một sản phẩm có nguồn cung ứng dồi dào từ các bệnh viện sản khoa nhưng nhược điểm của nó là trong máu cuống rốn, số lượng tế bào gốc ít. Vì thế, nếu bệnh nhân có cân nặng trên 50kg sẽ khó ghép. Tuy nhiên, theo lời bác sĩ Bỉnh: “Nếu cùng một lúc có 2 hoặc 3 mảnh ghép phù hợp, thì vẫn làm được như thường”.

Cho đến nay, theo bác sĩ Bỉnh cho biết thì, BVTMHH đã thực hiện thành công 60 ca cấy ghép – trong đó gần một nửa là trẻ em, đồng thời Ngân hàng máu cuống rốn của BVTMHH được Tổ chức Y tế thế giới công nhận là 1 trong 7 ngân hàng máu cuống rốn châu Á.

Bên cạnh đó, BVTMHH còn chuyển giao kỹ thuật cho Bệnh viện Trung ương Huế, Viện Quân y 108 và hai nơi này, đã ghép thành công cho bệnh nhân.

Đến tháng 7/2006, Bệnh viện Nhi Trung ương ở Hà Nội cũng thực hiện ca cấy ghép tủy xương và tế bào gốc đầu tiên. Điều khích lệ nhất là sau khi cấy ghép, bệnh nhân chỉ cần uống thuốc chống thải ghép từ 6 tháng đến 1 năm, thay vì phải uống suốt đời như trong các trường hợp ghép gan, ghép thận.

Phó giáo sư - bác sĩ Trần Văn Bé nói: “Tuy nhiên,  chúng tôi vẫn còn trăn trở là chi phí cấy ghép khá cao. Nếu là dị ghép, phải mất khoảng 350 triệu đồng; còn nếu tự ghép, thì khoảng 170 triệu” bởi lẽ sau cấy ghép, bệnh nhân phải cần đến những loại kháng sinh đặc trị chống nhiễm trùng và thuốc chống thải ghép, giá rất đắt.

Nhưng nếu so sánh với một số nước trong khu vực như Singapore, một ca dị ghép có giá 80 nghìn USD, tự ghép là 60 nghìn USD hay như Trung Quốc, dị ghép 60 nghìn, tự ghép 40 nghìn USD, thì chi phí của BVTMHH vẫn được coi là thấp nhất.

Vào thời điểm chúng tôi viết bài này, BVTMHH hiện còn gần 10 bệnh nhân đang chờ được cấy ghép tế bào gốc. Chị Nguyễn Thị Bích Thủy ở Kiên Giang, nói: “Lúc bác sĩ dưới tỉnh cho biết con tôi bị ung thư máu, cả nhà tôi khóc ròng vì cứ nghĩ ung thư là chết. Sau đó, bệnh viện chuyển con tôi lên đây. Mấy ngày vừa rồi, cháu đã được làm các xét nghiệm và sắp tới, cháu được “vô tủy”, tôi mừng lắm”.

Ở một giường bệnh khác, anh Trần Văn Lâm, bị suy tủy, đầu trọc lóc, cười: “Khỏe rồi anh ơi. Bây giờ chỉ mong cho mau xuất viện, về đi mần tiếp kiếm tiền nuôi con, nuôi vợ”.

Tất cả những thành công đã khẳng định rằng, mặc dù ngành cấy ghép tế bào gốc ở nước ta vẫn còn non trẻ với những bước đi chập chững, nhưng nó đã là hy vọng và niềm tin lớn cho những người chẳng may mắc phải  bệnh hiểm nghèo

Vũ Cao
.
.
.