Doanh nghiệp xuất khẩu lao động khốn khổ vì giấy phép con
Trần ai khi đến cửa “quan”
Vừa nghe tôi hỏi cái khó nhất với doanh nghiệp XKLĐ bây giờ là gì? Trưởng Văn phòng đại diện phía Bắc của Trung tâm Dịch vụ Du lịch và Cung ứng lao động dầu khí (OSC Vietnam Tours) Nguyễn Thanh Mân, người vốn khá thận trọng mỗi khi nói chuyện với nhà báo, nhưng lần này bất ngờ “xả” luôn:
“Khổ nhất là phải xin quá nhiều giấy phép con. Đây là cái khổ chung của tất cả các doanh nghiệp XKLĐ chứ chẳng riêng gì chúng tôi. Mặc dù có giấy phép, nhưng để xuống được đến xã, chúng tôi phải qua 3 lần xin phép: muốn về tỉnh phải có giấy giới thiệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước (QLLĐNN).
Từ tỉnh về huyện lại phải có giấy phép của tỉnh, mà người ta thích cho xuống huyện nào mới được xuống chứ không phải xuống cả đâu nhé. Đến huyện lại một lần xin phép nữa để xuống xã, và cũng trong cái cảnh mỗi huyện cho vài xã. Nếu không tin, anh cứ đi thực tế cùng cán bộ của tôi lên Phú Thọ mà xem”.
Hóa ra những “bức xúc cất lên thành lời” của bà Mân là một câu chuyện kéo dài suốt từ năm ngoái tới bây giờ. Tháng 6/2006, OSC xin Cục QLLĐNN cấp giấy giới thiệu cho doanh nghiệp lên Phú Thọ. Cầm giấy giới thiệu của Cục và công văn của Giám đốc công ty, các cán bộ lên làm việc với Ban Chỉ đạo XKLĐ tỉnh và Sở LĐ-TB&XH xin được thực hiện mô hình liên thông gắn kết doanh nghiệp với địa phương.
Tháng 8/2006, Sở LĐ-TB&XH Phú Thọ có tiếp công văn giới thiệu công ty về UBND và Ban Chỉ đạo XKLĐ huyện Thanh Ba để doanh nghiệp tạo nguồn. Sau đó, còn qua một loạt thủ tục, công ty mới được phép mở Văn phòng giao dịch tại thị trấn Thanh Ba.
Văn phòng này bắt đầu hoạt động từ giữa tháng 11/2006. Tuy nhiên, suốt mấy tháng đầu năm 2007, Văn phòng gần như không hoạt động được. Bởi theo báo cáo của cán bộ phụ trách thì có những chuyện gây khó dễ từ địa phương vì ngay cả việc đăng ký (có trả tiền) với Đài Truyền thanh huyện để quảng cáo việc tuyển lao động cũng không được đồng ý....
Cùng hai cán bộ của OSC, ngày 13/3, chúng tôi đã trực tiếp gặp Phó chủ tịch UBND huyện Thanh Ba Cao Đình Thưởng, người được giao phụ trách công tác XKLĐ. Khi nghe cán bộ của OSC hỏi phải chăng công ty còn thiếu thủ tục gì mà Văn phòng giao dịch ở Thanh Ba rất khó khăn trong việc tuyên truyền tuyển lao động (?).
Ông Thưởng đưa ra công văn ký cuối tháng 2/2007 của Sở LĐ-TB&XH Phú Thọ giới thiệu các doanh nghiệp được phép tuyển lao động trên địa bàn huyện Thanh Ba thì không thấy có tên của OSC Vietnam Tours.
Hóa ra, sau khi được cấp phép và đi vào hoạt động từ giữa tháng 11/2006, các cán bộ của OSC cứ nghĩ đã hoàn thành mọi thủ tục. Nhưng không ngờ cái giấy phép của Sở LĐ-TB&XH Phú Thọ chỉ có giá trị trong năm 2006, sang năm 2007, doanh nghiệp phải xin đăng ký lại thì mới được cấp phép đi xuống các huyện.
Xét theo cái lệ đã và đang tồn tại thì huyện cứ chiểu theo danh sách mà Sở đưa xuống, đơn vị nào có tên thì cho hoạt động. Chỉ “chết” doanh nghiệp, bởi để có công văn xin cấp phép mới, Văn phòng đại diện tại Hà Nội lại phải báo cáo ông giám đốc Trung tâm ở TP HCM để ông thảo công văn, đóng dấu rồi chuyển phát nhanh ra Hà Nội, sau đó cán bộ ở Văn phòng mang lên trình Sở LĐ-TB&XH.
Sau khi nghe nhân viên báo cáo, bà Mân dù ngao ngán nhưng cũng đành chấp nhận. Ngay ngày hôm sau, bà lại phải cử anh Phó đại diện lên Sở LĐ-TB&XH xin được gia hạn giấy phép cũ trong khi chờ công văn của công ty gửi ra. Nhưng tại đây, cán bộ Sở cho biết, không thể ký riêng cho OSC một cái giấy giới thiệu. Doanh nghiệp cứ xuống các huyện thỏa thuận với địa phương, có gì vướng mắc thì quay lại Sở báo cáo, Sở sẽ giúp.
Trong khi tôi còn chưa hết oải khi nghĩ tới cái hành trình trần ai để tuyển được một lao động thì một tuần sau, anh Hưng, cán bộ của OSC lại gọi điện hỏi “anh có muốn đi thực tế nữa không?”. Và lần này cũng vẫn là Phú Thọ.
Từ Hà Nội, mất gần ba tiếng chạy xe, chúng tôi mới lên tới huyện Cẩm Khê. Theo trình bày của anh Hưng, sau khi được ông cán bộ Sở LĐ-TB&XH đồng ý “nói hộ” các huyện để công ty tiếp tục được tạo nguồn, công ty quyết định xin mở rộng địa bàn sang huyện Cẩm Khê, vì huyện này cũng có khá đông lao động, không những thế hiện còn có 11 lao động ở xã Tiên Lương đã đăng ký với Văn phòng giao dịch ở Thanh Ba được giáo dục định hướng để đi Trung Đông. Đã hẹn trước nên chúng tôi gặp được cả Trưởng, Phó phòng Nội vụ - LĐ-TB&XH huyện.
Sau khi đồng ý cho doanh nghiệp được xuống tạo nguồn ở 5 xã, khi anh Hưng đề nghị huyện cho phép vào cả xã Tiên Lương vì ở đây đã có 11 lao động tự đăng ký với công ty, nhưng hiện hàng ngày các em phải đi học định hướng quá xa nên muốn huyện cho nốt xã đó để công ty mở lớp tại xã, thì cả ông Trưởng, Phó phòng đều từ chối với lý do đây là xã đang được huyện chọn làm điểm nên hiện chỉ cho một doanh nghiệp vào.
Nghe cái lý do kỳ cục này, tôi không hiểu người ta định làm điểm cái kiểu gì? Không những thế, mặc cho anh Hưng ra sức thanh minh rằng, việc 11 lao động ở xã Tiên Lương đến đăng ký với công ty hoàn toàn do họ tự tìm đến chứ không phải công ty đến xã tuyên truyền mà chưa xin phép huyện, ông Trưởng phòng vẫn tỏ ra khó chịu vì doanh nghiệp đã “tiền trảm hậu tấu” trong khi đây là... xã điểm.
Lại phải mất một hồi tranh luận, có lúc căng thẳng như một trận khẩu chiến khi anh Hưng nói rằng nếu huyện không cho thì doanh nghiệp cũng vẫn sẽ nhận và đào tạo những lao động của xã Tiên Lương tự nguyện đăng ký. Cuối cùng mấy ông cán bộ mới đồng ý cho mở lớp đào tạo định hướng tại xã này...
Nhưng Phú Thọ không phải địa phương duy nhất xảy ra tình trạng này. Đưa cho tôi mấy tờ công văn của Sở LĐ-TB&XH Hà Tĩnh giới thiệu OSC xuống các huyện, bà Mân bảo: “Ở Hà Tĩnh người ta còn bắt chúng tôi 3 tháng phải đi xin phép một lần. Thế là chỉ lo đi xin phép cũng đủ mệt rồi”.
Tuy nhiên, OSC không phải doanh nghiệp duy nhất gặp cảnh bị làm khó như vậy. Gặp tôi, Giám đốc Trung tâm XKLĐ và Thương mại Airserco Nguyễn Xuân Vui kêu trời vì doanh nghiệp của ông cũng đang phải “dài cổ” chờ cơ quan chức năng tỉnh Hà
Năm 2006, Airserco đưa được 180 lao động ở Hà Nam đi Malaysia và Dubai với mức lương từ 3 tới 6 triệu đồng/ tháng, tùy thị trường. Đầu tháng 3-2007, sau khi có công văn giới thiệu của Cục QLLĐNN, Airserco làm công văn gửi Sở LĐ-TB&XH tỉnh Hà Nam xin phép tiếp tục được tuyển lao động trong năm 2007, kèm theo đó là bảng thống kê rất cụ thể về số lượng lao động, nghề cần tuyển, chi phí và mức lương của từng nghề, thị trường...--PageBreak--
Tuy nhiên, công văn gửi đi rồi mất hút luôn chẳng thấy hồi âm. Ngày 20/3/2007, một lần nữa ông Vui lại ký tiếp công văn gửi đích danh Chủ tịch UBND và Sở LĐ-TB&XH Hà Nam để hỏi Airserco có được phép tuyển dụng lao động trên địa bàn Hà Nam hay không? Ngoài ra, ông Vui còn gửi công văn này lên Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH và Cục QLLĐNN để báo cáo sự việc.
Theo ông Vui, sở dĩ ông quyết định làm đến cùng chuyện này là vì trong khi người lao động và cán bộ các huyện, xã thì rất mong doanh nghiệp về, thậm chí người lao động còn tự tìm lên Hà Nội để nộp hồ sơ.
Nhưng do “tắc” từ tỉnh nên với những lao động này khi về làm thủ tục, nhất là vay vốn ngân hàng rất khó khăn. Trong câu chuyện với chúng tôi, ông giám đốc này cứ phàn nàn “rõ ràng chúng tôi đang giúp tỉnh giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo cho dân, chính quyền không biểu dương thì thôi lại còn... hành doanh nghiệp”.
Tuyển được lao động đã khó, đưa được lao động đi còn khó hơn. Phần lớn những người đi XKLĐ, nhất là lao động phổ thông đều thuộc diện nghèo. Những hộ này, mức chi phí 18 - 25 triệu đồng là khoản tiền không nhỏ và đều phải vay ngân hàng.
Với chủ trương khuyến khích người nghèo đi XKLĐ, Nhà nước có chính sách cho người lao động vay tới 20 triệu đồng không cần thế chấp. Với lý do phải bảo đảm an toàn cho tiền vay, hầu như ngân hàng nào cũng yêu cầu doanh nghiệp phải thế chấp vào vài trăm triệu thì mới cho người lao động vay tiền. Đây là điều vô lý.
Giám đốc Công ty TTLC Vinamoto Trần Lực cho biết, số tiền mà doanh nghiệp của ông đang phải thế chấp tại các ngân hàng lên tới hàng tỉ chứ không ít. Còn Công ty OSC thì từng gặp chuyện kỳ cục hơn. Năm ngoái, công ty tuyển lao động ở huyện Đạtẻh (Lâm Đồng) đi
Sau khi hoàn tất mọi thủ tục, lúc đến Ngân hàng Chính sách huyện Đạtẻh xin vay 18 triệu đồng thì có hai trường hợp bị từ chối vì lý do gia đình hai em này hiện đang nợ, một nhà nợ 8 triệu, một nhà nợ 10 triệu. Điều đáng nói là số tiền đó gia đình các em vay theo một chương trình khác thông qua tín chấp của Hội Nông dân, hàng tháng vẫn trả lãi đầy đủ và đến tháng 10/2007 mới đến hạn trả.
Vậy là để người lao động đi được, công ty phải cho hai gia đình đó vay đủ tiền để họ trả ngân hàng; sau đó ngân hàng mới chấp nhận cho vay các em 18 triệu để đi XKLĐ. Kể ra những câu chuyện này, bà Mân nói với tôi rằng, nhiều lúc gặp những chuyện chướng tai gai mắt như vậy mà vẫn phải chấp nhận.
Nhưng chẳng riêng gì bà Mân, ông Vui, hầu hết các giám đốc doanh nghiệp XKLĐ mà chúng tôi đã gặp đều có những bức xúc như vậy. Chỉ có điều họ không muốn nêu tên lên báo vì lo “báo đăng rồi chúng tôi còn bị hành khổ hơn”...
Bao giờ mới hết những câu chuyện “hành... là chính”?
Theo tìm hiểu của chúng tôi, sở dĩ có tình trạng này là do từ năm 2002, khi Nhà nước có chủ trương thực hiện mô hình “liên thông” trong XKLĐ. Tức là doanh nghiệp khi về địa phương tạo nguồn phải thông qua Ban Chỉ đạo XKLĐ các cấp (thường do một Phó chủ tịch UBND làm Trưởng ban).
Ý tưởng để xây dựng mô hình này rất tích cực, đó là hạn chế tình trạng người lao động bị lừa đảo, thu tiền tràn lan. Tuy nhiên, mô hình này lại vô tình tạo ra cơ chế xin - cho giữa cơ quan chức năng và doanh nghiệp. Theo bà Nguyễn Thanh Mân thì “đến cửa nào chúng tôi cũng phải chi phong bì mà nhiều khi vẫn bị gây khó khăn vì có người khác chi nhiều hơn”.
Bởi từ nhiều năm qua, đã thành cái luật bất thành văn là doanh nghiệp tạo nguồn ở địa phương nào thì đều phải chi “phí tạo nguồn” cho Ban chỉ đạo XKLĐ và các đoàn thể tham gia với giá từ 800.000đ - 1.500.000đ/lao động. Món lợi này chính là lý do khiến cho cán bộ phụ trách cố tình gây khó dễ để doanh nghiệp phải tăng giá “phí tạo nguồn”.
Thế mới có chuyện doanh nghiệp nào chịu chi thì địa phương cho xuống các huyện, xã có đông lao động, đường xá đi lại thuận lợi, còn không thì hoặc không cho vào, hoặc chỉ cho đến những nơi khó khăn, xa xôi thì làm gì có lao động mà tạo nguồn.
Sẽ cải cách hành chính ở lĩnh vực XKLĐ như thế nào? Tôi mang câu hỏi này đến Cục QLLĐNN, cơ quan trực tiếp soạn thảo Luật đưa người Việt
Theo Cục trưởng Nguyễn Thanh Hòa, hiện có hai vấn đề gây bức xúc cho doanh nghiệp và người lao động, đó là làm hộ chiếu cho người lao động và các thủ tục hành chính khi doanh nghiệp về địa phương.
Theo chỉ đạo của Thủ tướng, mới đây các cơ quan liên quan đã họp và đưa ra phương án thông thoáng hơn trong việc làm hộ chiếu, làm sao đơn giản nhất cho người lao động, để có thể nộp hồ sơ tại xã, tại tỉnh, Cục Xuất nhập cảnh hoặc tại doanh nghiệp.
Liên quan đến thủ tục hành chính khi doanh nghiệp về địa phương tạo nguồn, theo ông Hòa, đúng là có những địa phương dùng thủ tục hành chính gây phiền hà tới doanh nghiệp. Chính quyền phải coi việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là nhiệm vụ chính trị của địa phương chứ không phải làm vì lợi ích của ai cả, vì thế nhận thức chưa đúng thì phải chấn chỉnh.
Để điều chỉnh, trong Luật đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã quy định, doanh nghiệp được quyền tuyển chọn lao động ở tất cả các địa phương với điều kiện khi đến tuyển lao động tại địa phương, doanh nghiệp phải báo cáo với Sở LĐ-TB&XH biết; định kỳ 6 tháng, 1 năm báo cáo Sở về kết quả tuyển chọn và số lượng người lao động của địa phương đã được đưa đi làm việc ở nước ngoài.
Đang có hai phương án, chờ đến ngày 1/7 mới thực hiện, nhưng cũng có ý kiến phải làm luôn. Hiện Cục QLLĐNN đã có văn bản gửi Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH và Chủ tịch UBND các tỉnh rà soát lại vấn đề này.
Liên quan tới việc vay vốn ngân hàng, ông Hòa cho biết Cục QLLĐNN cũng sẽ làm việc với ngân hàng về vấn đề này để làm sao tạo điều kiện thuận lợi cho người dân.
Như vậy, cơ quan quản lý Nhà nước cũng đã biết nỗi khổ của doanh nghiệp và có điều chỉnh cụ thể bằng pháp luật. Hy vọng rằng những câu chuyện “hành... là chính” này sẽ không còn tồn tại. Hãy chờ!
