Có lẽ là một thứ tao nhã thời nay?

Thứ Tư, 10/02/2010, 15:30
Chơi với nhau đã lâu, hiếm thấy người nặng lòng với cố hương như nhà thơ Nguyễn Văn Hiếu. Vốn là chiến sĩ vận tải của Binh đoàn 559, sau này theo nghiệp binh mãi đến lúc về hưu ở quận Tân Bình, TP HCM. Cha mẹ mất đã lâu, còn bà chị và người em ở Yên Định xứ Thanh của anh Hiếu cũng chính là quê mẹ tôi, mỗi năm thể nào cũng vài ba lần từ TP HCM nhảo ra Bắc.

Đã 9 bận, cứ vào dịp cuối năm, nhà thơ Nguyễn Văn Hiếu cũng rủ mấy anh em chúng tôi về Yên Định đón giao thừa dương lịch. Có lẽ cũng là thứ trời cho, bấn bíu lắm việc nhưng anh Hiếu lại có cái thú làm thơ. Thú là một việc nhưng có lẽ cũng phải có tài nữa? Bằng cớ là Nguyễn Văn Hiếu đã có 6 tập thơ in ở NXB Hội Nhà văn, NXB Văn học. Giải thưởng Hội Nhà văn, Giải thưởng Báo Văn nghệ, Giải thưởng Bộ Quốc phòng có cả...

Tôi đã đến gia đình ông nhà thơ có vợ hiền con thảo ấy nhân bữa anh khánh thành căn nhà mới ở quận Tân Bình. Hai cậu con trai, một đang tu nghiệp bên Mỹ, một đang làm cho một doanh nghiệp lớn... Anh Hiếu, người Yên Định,  lập nghiệp thành danh mãi xứ trời Nam, chợt gẫm lại rồi liên tưởng đến những  cái tên, những thành viên trong gia đình Nguyễn Văn Hiếu (chồng Hiếu, vợ Hương, con tên Hùng, Dũng)  tự dưng bật lên  thứ ngữ nghĩa chi đó là lạ? 

Cái thú lẩn mẩn vốn sẵn trong tôi tự nhiên cứ tuần tự  một đôi câu đối Hiếu trọng, tình thâm, tân bình hương mãn/ Dũng lược tâm hùng yên định gia phong (Hiếu nặng tình dày làm nên hương thơm quấn quýt trong nhà/ Có dũng lược hùng tâm - ý nói giỏi giang đàng hoàng ngay thẳng - thì mãi yên vững một nếp nhà!). Hai câu trên nghĩa nôm na như vậy  nhưng các từ Hiếu, Hương, Dũng, Hùng là tên thành viên trong gia đình (chồng, vợ, hai con); Tân Bình, Yên Định là địa danh quê nhà và cũng là nơi gia đình anh Hiếu cư trú!

Đôi câu đối ấy được nhà thơ Nguyễn Văn Hiếu cho in khắc bây giờ vẫn treo trong nhà ông!

Dịp thu Kỷ Sửu năm nay, ông Hiếu ra chơi. Trên căn gác ở quán Quốc Triệu bên làng Lệ Mật hây hẩy gió thu lắm kỳ hoa dị thảo, như những lần tụ họp khác, nhà thơ Nguyễn Văn Hiếu ngồi giữa nhà văn Phạm Hoa, điêu khắc gia Hoàng Nhân và mấy anh em bên Văn nghệ Quân đội như nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, nhà văn Nguyễn Bảo,  nhà thơ Nguyễn Hữu Quý, nhà phê bình Hồng Diệu.

Cả bọn nâng cốc mừng nhà thơ Nguyễn Văn Hiếu vừa được lên chức ông nội! Quen lệ đến đoạn ngà ngà thì ai có bài thơ gì ưng thì đọc, Nguyễn Văn Hiếu bộc bạch dạo này ông chuyển sang tứ tuyệt và sắp tới có lẽ sẽ in một tập chỉ tuyền tứ tuyệt! Chất giọng đặc xứ Thanh của  Nguyễn Văn Hiếu chừng như bớt nặng và trở nên thanh thoát trong bài tứ tuyệt mà như ông nói mới vừa làm:

Mừng cháu nội mới sinh
Phấp phỏng bấy lâu nỗi chờ trông
Cháu nội ra đời lên chức ông
Sớm nay sân trước con chim hót
Cây tự nhiên khoe một đốm hồng.

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu vỗ đùi đánh đét khác với bản tính trầm lặng kín đáo thường ngày. Đọc lại đi! Khá lắm!

Nghe lại xong, cả bọn chợt lặng đi hồi lâu như đang suy ngẫm thêm cái gì... Nhà phê bình Hồng Diệu tự dưng ngoảnh sang hướng khác và rút bút biên biên chép chép thứ gì. Lát sau ông quay lại hướng về đám đông đang ồn ào, cũng khác hẳn với vẻ kiệm lời mọi bận. Ông nói vừa dịch bài tứ tuyệt của Nguyễn Văn Hiếu sang... Hán văn như thơ Đường!

Giọng đọc của Hồng Diệu khá truyền cảm:

Hỷ kiến đích tôn xuất thế
Thời nhật nguyệt niên trần cảnh mộng
Đích tôn xuất thế ngã thành ông
Đình tiền kim tảo tranh ca điểu
Thụ đột nhiên khai nhất điểm hồng.

Hồng Diệu đọc lại bản dịch đến lần thứ ba... Đành một nhẽ nghĩa đen là sinh cháu nội nhưng chữ xuất thế nghe hơi bị kỳ vĩ quá. Tất thảy dừng chén chừng có vẻ đăm chiêu lắm. Mỗi anh góp mỗi câu. Riêng tôi chưa dám góp vì biết mình khi nào cũng dưới cơ về vốn Hán cổ của nhà phê bình văn học Hồng Diệu nhưng thấy chữ đột nó có vẻ chưa chuẩn.  Có thể chữ đột sắc thái ngữ nghĩa hơi bị mạnh?

Về bằng trắc cũng chưa phải là cân chỉnh lắm nên tôi rụt rè góp rằng nên thay đột bằng hốt. Rằng hốt ngữ nghĩa sắc thái cũng rưa rứa nhưng nó nhẹ nhàng hơn. Nhưng Hồng Diệu tiên sinh sau một lúc ngắc ngứ vẫn khăng khăng đột mạnh hơn do vậy hay hơn! Rằng trọng tâm của câu nó dồn tụ vào chữ đột ấy cây bỗng nhiên khoe một đốm hồng. Riêng chữ xuất thế thì lắm phương án  nhưng rốt cuộc nghe chừng chưa ổn. Đành chấp nhận phương án đầu tiên của Hồng Diệu.

Trong cơn hứng của anh em, tôi rút chiếc bút nho khi nào cũng trữ trong túi, mượn nhà hàng tờ giấy chép lại bài thơ. Cho đủ thủ tục, lại chép thêm dòng lạc khoản Thăng Long thành, trọng thu Kỷ Sửu, Nguyễn Văn Hiếu thi, Hồng Diệu dịch, Xuân Ba thư (Thăng Long năm Kỷ Sửu, tiết thu, thơ Nguyễn Văn Hiếu, Hồng Diệu dịch, Xuân Ba viết chữ).

Mãi hơn hai, ba tuần sau cuộc tụ ấy, khi mà mỗi anh tản ra mỗi phương do công việc và những bấn bíu này khác thì tôi nhận được tin nhắn của nhà phê bình Hồng Diệu thay chữ xuất thế bằng đản sinh! Đang dự một cuộc họp mà tôi bật kêu lên khá lắm làm mọi người quay lại cứ tưởng tôi nịnh cái lão diễn giả dở hơi đang thao thao bất tuyệt! Khá bởi chữ đản có tới 10 nghĩa. Ứng với 10 nghĩa ấy có 10 cách viết khác nhau. Chữ đản ở đây là đẻ, sinh nở gồm bộ ngôn và chữ diên họp lại mà thành!

Chưa hết. Hôm sau nữa, Hồng Diệu tiên sinh nhắn tiếp tin khác rằng câu thứ hai chữ xuất thế thay bằng xuất hiện cho hợp với đầu đề bài thơ!

Hoàn chỉnh bản dịch cả bài:

Hỷ kiến đích tôn đản sinh
Thời nhật nguyệt niên trần cảnh mộng
Đích tôn xuất hiện ngã thành ông
Đình tiền kim tảo tranh ca điểu
Thụ hốt nhiên khai nhất điểm hồng.

Nghĩa bài thơ có thể hiểu như thế này:
Mừng thấy cháu nội mới đẻ
Ngày qua tháng lại, ngày thường mà ta cứ như sống trong mộng ảo
Cháu đích tôn xuất hiện, như vậy ta thành ông nội
Sân trước sớm nay chim chóc thay nhau hót
Cây chợt nở ra một (đóa hoa) màu hồng.

Tất nhiên, tôi phải chép lại bản dịch của bài thơ (mà bạn đọc đang có trong tay. Riêng bản này, mong được nhà phê bình Hồng Diệu đại xá,  tôi vẫn chép chữ hốt thay cho chữ đột).

Chép xong, lại lẩn mẩn nghĩ thêm, ở những cái mốc tuổi tác hay những việc lớn của cuộc đời thi thoảng mà ngó lại thì cũng chẳng sướng sao? Để mà ghi mà nhớ cái thời những bấn bíu này khác của kinh tế thị trường lẫn những mưu sinh tất tả là thế mà các ông nó vẫn tiêu dao được những thứ thú tao nhã ấy! Có thể hắn nghĩ, thế hệ các ông nó hẳn là từng lặp lại một thứ thú đã quá vãng? Nhưng ơn giời, trong những bấn bíu chao đảo này khác mà tĩnh lặng mà cân bằng được như vậy thì lại cũng là một cái gì đáng kể lẫn đáng nhớ?

Đông chí năm Sửu

X.B.
.
.
.