Chuyện về lời thề truyền kiếp của hai thôn
Vì thế, nó chính là dấu chấm hỏi to tướng, lơ lửng trên đầu người hai thôn Tức Mặc và Thượng Lỗi. Phóng viên chúng tôi về tìm hiểu sự thực của câu chuyện.
Sự tích lời nguyền
Tôi lên Ủy ban Nhân dân xã Lộc Vượng, các cán bộ xã xác nhận, dân chính gốc của hai thôn không bao giờ lấy nhau, chỉ có người ngụ cư đến mới không phải theo tập tục này.
Mỗi thôn bây giờ hơn 500 hộ dân, với hơn hai nghìn dân chính gốc. Họ chỉ cho tôi nhà cụ Phan Văn Tiến ở gần đình làng Thượng Lỗi, bảo chỉ cần gặp cụ Tiến sẽ "ra hết" vì cụ là người nghiên cứu sử của xã, kiêm làm địa chính cho tỉnh.
Cụ là một ông đồ nho, am tường chữ Hán, thành thạo tiếng Pháp, biết tử vi, lại có thêm thuật chiêm bốc, cho nên được mọi người rất kính trọng. Trước đây xã Lộc Vượng có nhiều cụ cũng rất giỏi như cụ Tiến nhưng đã lần lượt quy tiên, nay chỉ còn lại mình cụ.
Thấy khách đến, lại hỏi về sử, mặt cụ sáng rỡ, "Chuyện hai thôn không lấy được nhau ấy hả, để tôi kể nghe nhé" và cụ ngược dòng thời gian...
![]() |
| Đình Tức Mặc thờ Vương Thục Côn công chúa. |
Xưa ở thôn Thượng Lỗi có ông bà Phạm Văn Khang, hai vợ chồng tuổi đã ngoài bốn mươi mà vẫn không có con. Một đêm người vợ mơ thấy trước thềm một bông hoa hồng trắng, hương thơm ngào ngạt. Tỉnh dậy, bà thấy trong người khác lạ, ít lâu sau hạ sinh ra một cô con gái đặt tên là Phạm Thị Côn.
Côn dáng hình yểu điệu, mi thanh, mục tú, hết sức yêu kiều, đàn hay hát giỏi, cầm kỳ thi họa nức tiếng một vùng. Lúc đấy tướng giặc Hán là Tô Định nghe danh của nàng, rắp tâm quyết chiếm bằng được mỹ nữ về làm vợ. Hắn cho người dâng lễ vật đến nhà nàng, bị ông bà Khang từ chối, Tô Định tức tối điên cuồng, bắt giam ông Khang.
Ông mất khi ở trong ngục, chẳng bao lâu bà Khang vì thương nhớ chồng lâm bệnh qua đời. Nợ nước thù nhà, Phạm Thị Côn gia nhập nghĩa quân Hai Bà Trưng. Nàng về thôn xóm của mình, chiêu mộ được 2.000 quân sĩ đi theo Hai Bà Trưng.
Trận thắng đầu vang dội, Hai Bà Trưng xưng Vương sắc phong cho Phạm Thị Côn là Vương Thục Côn công chúa. Năm 43, giặc Hán lại một lần nữa cho quân tràn vào bờ cõi nước ta, thế giặc quá mạnh, bị tướng giặc Mã Viện truy đuổi, Hai Bà Trưng chống trả quyết liệt rồi hy sinh ở sông Hát Giang (tỉnh Hưng Yên).
Đại nữ tướng Vương Thục Côn công chúa cùng đám quân sĩ còn lại chạy dọc theo dòng sông Hồng cầm cự về đến quê, sau khi bắn hết cung tên, phi ngọn lao cuối cùng, nữ anh hùng cùng đám quân nữ trẫm mình xuống bến Đò Chè. Nàng về báo mộng cho dân làng. Nhân dân lập miếu thờ bà ngay trên triền đê, tại xứ Quần Nghi, thôn Thượng Lỗi.
Năm 1138, thời nhà Lý, vua Lý Anh Tông cử Luân Công Đại tướng quân quê ở Vụ Bản sang đánh giặc nước Ai Lao. Vị đại tướng trước giờ xuất trận, đi ngang qua thôn Thượng Lỗi, thấy nơi đây hoang vu, gió thoảng mây bay, dặt dìu mê hoặc, hương thơm bảng lảng từ đâu đưa tới quấn quyện hồn người, nhìn kỹ thì ra trong ngút ngàn lau sậy thấp thoáng có ngôi miếu nhỏ.
Ông dừng chân, nghe người dân trong thôn kể về sự tích ngôi miếu, vị tướng không khỏi xao lòng, bùi ngùi thương cảm phận nhi nữ mà chí khí anh hùng. Ông quyết định dựng lều, cắm trại một ngày tại nơi đây. Đêm đó, vị tướng quân thắp mấy nén hương thơm, lòng thành cầu khấn.
Quả nhiên linh ứng, Luân Công Đại tướng quân dẹp tan quân giặc. Trên đường thắng trận trở về, đi qua ngôi miếu, như có một sợi dây vô hình níu giữ, ông xuống vái lạy, rắc hoa, đổ rượu, kết nghĩa chị em.
Vậy là khoảng 1000 năm sau, Vương Thục Côn công chúa có người em kết nghĩa là Luân Công Đại tướng quân. Sau này, khi lui chốn quan trường ông cùng 10 vị bô lão trong một lần lên Điệp Sơn Tiên (ngọn núi Tiên) ở Ninh Bình vãn cảnh không trở về.
Thôn Thượng Lỗi nhất tâm thêm một bát hương trong miếu thờ Phạm Côn công chúa để thờ ông. Vậy là hai chị em, ngày đêm gần gũi, sớm tối có nhau...
Năm 1225, vào thời nhà Trần, thôn Tức Mặc không có thành hoàng, nên xin với thôn Thượng Lỗi cho đón Phạm Côn công chúa về làng mình để thờ. Đến giờ, đình Tức Mặc vẫn lưu lại một bức đại tự đề 4 chữ "Trưng thị công thần" (vị tướng tài của Hai Bà Trưng), do nhà Trần sắc phong.
Từ đó trở đi có tập tục, cứ ba năm một lần vào những năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu có lễ rước giao hảo diễn ra 3 ngày 3 đêm giữa hai thôn. Năm Mậu Tý vừa qua 24/11 là ngày đản nhật (ngày sinh) của bà có lễ rước từ thôn Tức Mặc xuống Thượng Lỗi.
Lá cờ đi đầu thêu bốn chữ "Hành hạnh cố hương" (Về thăm quê cũ). Ba năm sau lại có lễ rước từ thôn Thượng Lỗi lên Tức Mặc, với lá cờ thêu bốn chữ "Viết yết nguyên thần" (Thần đi kiệu lên thăm). Đức thành hoàng thờ tại Đình Thượng Lỗi lưu lại bức đại tự là Lý triều Công Thần Luân Công đại tướng quân, Trung đẳng thần được phong chức Tổng trấn, Nguyên suý.
Cụ Tiến dừng lại, nhìn xa xăm, rồi cất tiếng: "Chính vì, Thành hoàng làng thôn Tức Mặc và Thượng Lỗi kết nghĩa chị em, nên dân trong thôn vì tỏ lòng thành kính với hai vị anh hùng dân tộc đã có lời nguyền suốt đời suốt kiếp con cháu hai thôn thân thiết hữu tình, như chung một dòng máu, không bao giờ lấy nhau. Ai phạm vào lời nguyền sẽ bị trời quả báo".--PageBreak--
Kết hôn là... chết?
Theo như lời người dân nơi đây kể, phạm vào lời nguyền, cách đây gần trăm năm có ông Trương Nguyện còn gọi Trương xã tuần người thôn Thượng Lỗi lấy một bà thôn Tức Mặc. Họ sống với nhau được 3 năm không con cái.
Người đàn ông ốm chết khi còn trẻ, sau cái chết của chồng ít lâu, người vợ phát điên phát dại, bỏ làng đi biệt tăm. Rồi ông Vịnh con cụ Thuồng ở thôn Tức Mặc nếu còn sống giờ cũng tròn trăm, lấy người thôn Thượng Lỗi cưới nhau gần chục năm chẳng con cái gì.
Ông chết khi ngoài ba mươi tuổi, vợ ông đang tuổi xuân nhưng bị một căn bệnh lạ, cứ lở loét khắp đầu chữa thế nào cũng không khỏi, bà lâm bệnh nặng rồi mất. Từ đó trở về sau người của 2 thôn chẳng bao giờ còn dám tơ tưởng đến chuyện chồng vợ nữa.
Câu chuyện của họ khiến tôi không khỏi tò mò, vậy nên ghé đến đền Trần, nơi thờ 14 vị vua nhà Trần và đức Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, nằm trên địa phận của thôn.
Đầu tiên là hai cụ ông người nhà đền, cụ Trần Xuân Vụ và Trần Xuân Mã đã trên 70, cho biết: "Chúng tôi người Tức Mặc, rất thân với người Thượng Lỗi, có việc gì vẫn giúp nhau, tình nghĩa như anh em một nhà, tuyệt đối không dám có tư tình, ẩn ý. Cái này duy trì từ thời xa xưa. Nếu quyết lấy, thế nào cũng bị trả giá".
![]() |
| Cụ Phan Văn Tiến - Người chép sử của xã gần trăm tuổi. |
Thế là từ già đến trẻ, đều quán triệt tinh thần dân chính gốc hai thôn không được kết hôn với nhau. Rồi chẳng ai bảo ai, cứ qua lời kể của ông bà truyền lại, người dân hai thôn nhất nhất tuân thủ.
Gia đình nào có con đến tuổi cặp kê cứ nơm nớp lo sợ, "nhỡ dại... chẳng biết thế nào". Rồi đến khi chúng có đôi có lứa, không phạm vào điều đại kị, cha mẹ, ông bà mới thở phào nhẹ nhõm. "Có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Nhỡ dại, em chết" - cánh trẻ nói thế.
Bác Trần Hoài Sơn nguyên Trưởng ban văn hóa xã Lộc Vượng, cùng bác Trần Huy Chiến nguyên Bí thư thôn Tức Mặc giờ là trưởng khu Đền Trần cho biết, cả hai bác đều người làng Tức Mặc, chuyện trai gái hai thôn kết hôn là phạm vào điều đại kị.
Hai bác cho tôi xem quyển Ngọc phả của hai thôn, được các cụ thông thuộc chữ thánh hiền ghi chép cẩn thận bằng bút mực truyền từ đời này sang đời khác kể về sự tích lời thề truyền kiếp.
Đình Tức Mặc và đình Thượng Lỗi cách nhau qua con mương với cây cầu sắt. Đình Tức Mặc cảnh đẹp cổ kính nên thơ, hương thơm của dàn hoa lan, hoa lý, hoa đại hòa quyện vấn vương, không khí mơ hồ huyền ảo. Tượng Vương Thục Côn công chúa, nét mặt phiêu diêu tĩnh tại, mày cong nét nguyệt mỹ miều.
Cụ ông Trần Khắc Kê người trông coi ngôi đình đi tới cùng người trong thôn, họ đang ôn lại kỷ niệm ngày 20 tháng 8 âm lịch vừa qua rước bà lên đền Trần dự ngày hóa nhật của Đức thánh Trần Hưng Đạo.
Khi được hỏi về bà, cụ Kê cho biết, ngày xưa lụt nên ngôi miếu thờ bà bị dòng nước lũ cuốn trôi mất. Những hoành phi câu đối cũng thất lạc hết. Mãi sau này, mới xây lại được đền thờ bà và đến năm 1960 tập tục giao hảo mới quay trở lại nhưng chỉ còn làm gọn trong một ngày.
Cứ đến ngày đản nhật của bà, nhất quyết phải tuân theo tập tục, hai thôn hội tụ đủ 120 trai chưa vợ, gái chưa chồng, gia đình tự sắm xiêm y lộng lẫy để rước kiệu bà. Gia đình nào có con được chọn thì tự hào, rộn rã lắm... Giờ các con, các cháu của hai thôn đều đi học trên phố, nhưng cứ đến ngày lễ hội lại thu xếp về với quê, với xóm. Tôi hỏi đùa cụ Kê "Ép dầu, ép mỡ, ai nỡ ép duyên.
Ngày trẻ chẳng nhẽ cụ không phải lòng cô yếm thắm lụa đào nào ở thôn Thượng Lỗi?". Cụ chối đây đẩy: "Úi, ai mà dám. Cô con gái của tôi giờ trên bốn chục. Ngày trẻ nó yêu cậu ở thôn Thượng Lỗi. Cả nhà hãi quá, bà nhà tôi tìm hiểu thì ra gia đình nhà cậu kia ở tận Thanh Hóa, là dân ngụ cư, nên cưới không vấn đề gì. Hiện tại nó được hai đứa..." - cụ móm mém cười hiền lành...
Tên làng bắt nguồn từ sự tích
Tại sao người ta gọi là thôn Tức Mặc, thôn Thượng Lỗi. Mỗi người có cách lý giải khác nhau. Đa phần người hai thôn cho rằng do người Tức Mặc đến thôn Thượng Lỗi xin bát hương của chị là Vương Thục Côn công chúa mà không chịu nhận bát hương của người em.
Trong khi, Thượng Lỗi là quê hương của bà Phạm Thị Côn, cho bát hương của bà đi là có lỗi, đã phạm vào đấng bề trên. Nên có tên là thôn Thượng Lỗi. Còn người thôn Tức Mặc biết người ta không thích cho bát hương của người chị, tức quá nhưng vẫn làm theo ý của thôn mình, mặc kệ người Thượng Lỗi, nằng nặc bê bát nhang người chị đi. Ghép hai từ vào, nên thôn có tên Tức Mặc.
Bác Trần Thị Đức người chính gốc thôn này mau mắn nói, đừng có tin chuyện họ vừa kể. Bác nói, ngày xưa đất nơi đây có tên Hương Mặc, ở đây chài lưới thuyền bè, sông kênh bến cảng vào ra tấp nập. Đất 5 vua 3 tổ, thôn này hưởng lộc vua ban, dân làng nhàn tản.
Tuần tráng nhìn cảnh thôn xóm vi vu rong chơi suốt ngày, nói dân không nghe, đã đệ đơn kiện lên triều đình. Nên có tên là thôn Vi Vu, xã Tráng Kiện. Việc người của thôn bị tuần tráng kiện đưa đẩy truyền từ người nọ sang người kia, "Tuần tráng, ngươi tức mặc ngươi, thôn ta mặc kệ, vẫn cứ vi vu, thong dong đi chơi". Vì thế, sau này dân trong thôn tự đặt là Tức Mặc.
Bác Chiến trưởng đền Trần không đồng tình với hai dẫn giải trên. Bác bảo, thôn Tức Mặc là quê hương của 14 vị vua, mảnh đất có nhiều tướng tài. Đất này có truyền thống hiếu học, nhiều văn nhân kẻ sĩ, tao nhân mặc khách ngâm thơ, đối ẩm.
Từ Hán Việt "Mặc" nghĩa là "mực". Tức Mặc có nghĩa là nghiên bút. Đất này tướng sĩ oai hùng, đánh đông dẹp bắc, đầu đội trời chân đạp đất, nên mới có tên gọi xã Tráng Kiện (bây giờ là xã Lộc Vượng). Còn vì sao có tên là Thượng Lỗi thì rất khó giải thích việc tìm nguồn gốc thôn Thượng Lỗi, xin kính nhờ học giả An Chi giúp đỡ.
Trong quyển Ngọc phả cũng không ghi chép xuất xứ sự ra đời tên gọi hai thôn, nên dân họ tự suy diễn mỗi người mỗi kiểu. Nhưng việc trai gái hai thôn không được xe duyên là sự thực và cũng là một nét văn hóa rất hay, thú vị và đáng trân trọng


