Bia Văn Miếu “Di sản tư liệu thế giới”: Trăm năm bia đá... chẳng mòn

Thứ Bảy, 20/03/2010, 15:45
Trong hội nghị thường niên của Uỷ ban UNESCO vừa họp tại Macau, Trung Quốc ngày 9/3, 82 bia Tiến sĩ ở Văn Miếu- Quốc Tử Giám (Hà Nội) một minh chứng sống động nhất của biểu tượng Việt Nam cho biểu tượng của truyền thống hiếu học và đạo làm người của kẻ sĩ, được UNESCO đồng thuận bỏ phiếu tôn vinh là Di sản tư liệu thế giới vì tính chất đặc biệt hiếm thấy, có một không hai.

Đã qua hơn 500 năm có lẻ, bắt đầu từ thời Vua Lê Thánh Tông cho dựng những tấm bia đầu tiên tại Vườn bia Văn Miếu - Quốc Tử Giám (năm 1484), tháng ngày dài sau đó, đời nọ nối tiếp đời kia, những tấm bia vinh danh các bậc khoa bảng hiền tài Việt Nam kéo dài gần 300 năm của hai triều Lê - Mạc (1442-1779) lần lượt được dựng lên. 

Sang thời nhà Nguyễn, kinh đô được chuyển vào Huế  nên sau đó bia tiến sĩ không còn dựng tại Hà Nội mà dựng ở Huế. Nhưng, có một sự khác biệt là bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) có 82 tấm, còn ở Huế chỉ có 32 tấm. Không giống như bia tiến sĩ Huế, càng khác xa với bia tiến sĩ ở các nước trên thế giới, 82 tấm bia ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) còn có thêm bài ký được khắc trên các tấm bia do các bậc đại thần, đồng thời là đại nho thực hiện.

Tuy nhiên, trong 82 tấm bia có 10 tấm không có bài ký. Nhưng, chỉ với 72 tấm bia có bài ký đã thể hiện được  tinh thần của cả một dân tộc trong thời kỳ thăng trầm của lịch sử, và tư tưởng của các bậc đại nho, kẻ sĩ danh tiếng nước nhà.

Theo những nhà nghiên cứu đương thời, bia tiến sĩ  Văn Miếu  (Hà Nội) là kho tư liệu quý giá độc nhất vô nhị, vì trước hết đó chính là những văn tự gốc. Các nhà sử học có thể tìm thấy ở đây tên tuổi gắn bó với lịch sử dân tộc, quê quán, danh tính của những người đỗ khoa bảng được ghi cụ thể, chính xác, qua đó lại xác định tuổi cho nhiều di tích ở những nơi mà không ghi niên đại. Nhà địa lý lịch sử có thể tra cứu trên văn bia để tìm ra những địa danh cũ, những vùng đất cổ liên quan đến hiện tại.

Và một điều thú vị, qua từng bài ký người ta có thêm chứng cứ để khảo sát vai trò cũng như diễn tiến của nho học ở Việt Nam. Một điều đặc biệt là hoa văn trang trí trên tấm bia, hình hài tổng thể của bia rùa, hay mỗi con rùa cõng trên mình tấm bia đá đã khắc họa một nền mỹ thuật toàn vẹn và rực rỡ dưới hai triều Lê - Mạc. Không ít người bị hớp hồn, suy tưởng bởi những áng thiên cổ hùng văn sáng lấp lánh của tư tưởng lớn mang đầy ý nghĩa nhân văn sâu sắc của những bậc đại nho, kẻ sĩ hiền tài qua các bài văn bia có giá trị bất biến qua thời gian.

Hiểu cặn kẽ "Hiền tài là nguyên khí quốc gia", chính vì vậy tấm bia được dựng đầu tiên  (khoa năm 1442), mục đích được dựng bia được viết rất rõ: "Ghi tên khắc đá bày nơi cửa nhà Thái học (hiền tài). Khiến sĩ phu trông vào  mà sinh lòng hâm mộ phấn chấn, tự rèn luyện lấy danh tiết".

Cứ nhâm nhi, nhấm nháp từng ý, từng lời của những bậc đại nho khi xưa trong mỗi bài văn ký mới thấy hết cái cao sang, tinh túy, của việc tự rèn mình trong việc học. Học không chỉ để cứu mình mà còn giúp nước, cứu dân. Nguyên khí chính là những bậc kinh bang tế thế, thông tuệ đạo lý thánh hiền.

Người xưa có câu, "sĩ khả bách vi" (kẻ sĩ có thể làm trăm thứ), đặc biệt thông "nho, y, lý, số", và lấy chữ hiếu, chữ trung làm đầu. Kẻ sĩ phải là người trung quân, ái quốc, hiểu sâu sắc đạo lý ở đời. Đã qua đi hàng thế kỷ, vậy mà ý nghĩa của bài ký trên từng tấm bia vẫn vẹn nguyên giá trị.

Tấm bia năm 1463 đã khắc: "Kẻ sĩ mong được khắc tên lên bia đá này tất phải làm sao cho danh xứng với thực. Sửa đức hạnh, yên phận mình, bắt chước văn hiến giữ lòng, đừng theo lòng quay quắt của Công Tôn. Đức Thanh Liêm phải như  Triệu Duyệt Đạo, tính cương trực phải như Phạm Cảnh Nhân. Người ở chức thị tụng phải  nghĩ sao để dâng được mưu hay. Người nắm việc kỷ cương thì nghĩ sao cho chính sự trong sạch. Người cai trị địa phương thì lo làm sao tỏ đức của vua mà thấu tình hình dân. Người giữ quyền chăm dân thì lo sao cho đủ dân sinh mang bền gốc nước".

Trước nay, thời nào cũng vậy, có người quân tử thì cũng có kẻ tiểu nhân, bia đá như bài giảng thiết thực răn đe kẻ sĩ, con người gắng rèn lấy chữ đức, chữ nhân để sống.  Tấm bia khoa thi năm 1577 có khắc: "Vì thế mới có việc để tên khắc đá, cho người đời sau kính cẩn noi gương, những người làm quan mới có thể khi tại chức  thì dám nói, dám can, kính vua và bảo vệ dân để người đời sau phải khen là bậc quân tử ngay thẳng, ngõ hầu mới không hổ với hai chữ khoa mục. Trái lại nếu chỉ mượn tiếng đỗ đạt để cầu ấm no, lấy con đường ấy làm lối tắt để bước lên hoạn lộ thì đời sau sẽ gọi là kẻ tiểu nhân gian tà, thành ra lại là bôi xấu cho khoa mục".

Ôi chao! đã bước qua bao năm bao tháng, mà ý tứ thanh tao, lời lẽ khúc triết răn dạy có tính chất "khuyến - trừng", khuyến khích học hành, trừng giới kẻ xấu, của những bậc hiền nhân vẫn vẹn nguyên giá trị  cho đời sống hiện thời. Việc học thời nào cũng cần, việc đỗ thời nào cũng có,  làm sao để ngay cả khi các sĩ tử đỗ rồi nhưng nếu làm người con bất hiếu, người tôi bất trung, là quan tham lại nhũng, sa đọa về phẩm chất thì những bài ký như hồi chuông gióng lên cảnh tỉnh để họ tự ý thức về bản thân mình khi tên tuổi đã được khắc vào bia đá...

Mỗi lời văn trên bia ký như mang đầy tính dự cảm, dự báo trong tương lai, một quốc gia thịnh trị phải là quốc gia có nhiều hiền tài, ngay từ tấm bia tiến sĩ đầu tiên được khắc năm 1484 ghi lại khoa thi năm 1442, do Thân Nhân Trung soạn, ông viết: "Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí yếu thì thế nước yếu và suy cho nên các đấng thánh đế minh vương không ai không chăm lo việc gây dựng nhân tài, bồi đắp nguyên khí"...

Việc học là cần thiết, học mọi nơi, mọi lúc và mọi chốn, việc học được chỉ định cả về không gian và thời gian, người ta học ngay cả khi đã đỗ đạt thành danh, tên được khắc trên bảng vàng. Tấm bia năm 1478 đã khuyến khích điều lành, ngăn ngừa điều xấu: "Nếu kẻ nào nhờ việc thi đỗ để làm cái cầu ấm no... chỉ mưu cho thân, không nghĩ đến nước thì người ta sẽ chỉ tận tên trên bia mà nói: "Kẻ này gian kẻ kia nịnh, kẻ này đặt việc nhà lên trên việc nước, làm gầy người để béo mình, kẻ kia làm hại người lành, kết bè cùng lũ gian. Như thế thì bia càng lâu càng bị bôi nhọ. Đó, việc lập bia có ý nghĩa sâu xa như thế, có phải chỉ cốt để lại lâu dài cho vẻ vang thôi đâu!".

Tư tưởng giáo dục của các bậc nho sĩ đời Lê, thông qua lời lẽ khúc triết, tinh thần khẳng khái  được lập đi lập lại và phát triển ở các triều đại nhà Lê kéo dài từ thế kỷ thứ XV đến thế kỷ thứ XVIII qua các bài ký trên văn bia. Bia khoa thi năm 1748 viết: "Kẻ sĩ được ghi tên trên tấm  đá này, ắt nên giữ lòng trong sạch, giúp đời hành đạo... Thảng hoặc có kẻ quỳ gối uốn mình, tô vẽ giả dối, ngọc vết khó giấu, công luận ngàn năm, hóa chẳng đáng sợ sao".--PageBreak--

Hiểu rõ thiện ác nhân gian, lằn ranh giới mong manh giữa chính và tà, giữa hiện hữu và vô hình, giữa phần con và phần người, giữa cái xấu và cái tốt, giữa vô thường và bản ngã, bài ký văn bia thể hiện tinh thần hướng đạo, soi tâm trong sáng cho muôn đời sau. 

Nhiều lúc, tôi băn khoăn tự hỏi, những bài ký trên tấm văn bia đã có cách nay hơn nửa thiên niên kỷ mang đầy tính dự cảm, với những giá trị nhân văn vốn có, tư tưởng tự phát sáng, nó không chỉ để viết cho một thời mà nhiều thời, không chỉ để cho một quốc gia, hay một dân tộc mà cho nhiều quốc gia và nhiều dân tộc trên khắp hành tinh chúng ta, phải chăng chính vì vậy mà những tấm văn bia đã được UNESCO công nhận mà vinh danh là di sản tư liệu thế giới.

Di sản quý báu của ông cha để lại, gìn giữ như thế nào? Lời lẽ thống thiết của người xưa để lại, đạo lý ngàn đời khắc trên bia đá qua áng văn bất hủ khắc ghi: “Thế mới biết tấm bia này dựng lên sẽ để phân biệt ngọc với đá, để người thiện lấy đó mà gắng, kẻ ác thấy đó mà e dè, đâu phải chỉ để nhìn cho đẹp mắt".

Nhưng hỡi ơi! 82 bia đá giờ đang bị tàn phá trước sức nặng của thời gian, và thêm nữa, trải qua bao nắng mưa của tiết trời, những dòng lưu bút của các bậc tài danh khoa bảng đang mờ dần qua năm tháng, nếu không được chỉnh trang, nâng cấp kịp thời, e rằng sẽ đến hồi mất hẳn.

Nhìn những cảnh tượng như thế này, bia Tiến sĩ hẳn sẽ mất đi vẻ tôn nghiêm và ý nghĩa vốn có...

Còn một điều day dứt băn khoăn, hằng năm lượng du khách đến Văn Miếu - Quốc Tử Giám tham quan ngày một đông, khu vườn bia tiến sĩ, biểu tượng sống động cho linh hồn kẻ sĩ của thời đại nêu cao tinh thần "rèn luyện danh tiết" lại biến thành nơi các sĩ tử đi lấy hên, cầu may. Chẳng vậy mà năm nào cũng độ tết đến xuân về, hay vào các mùa thi thì Văn Miếu lại dập dìu sĩ tử, tấp nập kẻ ra người vào mong được nương tựa vào chốn tâm linh.

Người ta cứ nghĩ sờ vào đầu rùa, mai rùa hay vào bia rùa thì sẽ gặp nhiều điều may mắn trong học hành thi cử, "Sờ càng nhiều, may càng lớn". Rồi, với tư duy kỳ lạ của sĩ tử, rùa càng to, bia càng lớn thì đích thị tiến sĩ đỗ đạt càng cao, chính vì vậy những cụ rùa to khỏe nhất đều có đầu rùa sáng bóng lên, hơn hẳn những rùa cỡ nhỏ khác.

Thương tiếc cho những tấm bia và những cụ rùa đang bị "hành xác" bởi bàn tay của người đời, GS Trần Lâm Biền - Cục Di sản - Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch đã phải ngao ngán thốt lên: "Tại sao lại phải sờ đầu rùa mà người ta không tự sờ vào đầu mình?!". 

Cảnh báo về sự xuống cấp của khu vườn bia, các nhà chức năng mới đây đã xây một hàng rào bảo vệ chạy dọc những tấm bia rùa làm khoảng ngăn cách giữa du khách và nguồn di sản quý giá, với ý thức "chỉ để chiêm ngưỡng mà không sờ vào hiện vật".

Mặc dù vậy nhưng sự thôi thúc được sờ vào đầu rùa, vào bia ký để "xin ít lộc lá" nên du khách thập phương xa gần đã trèo qua hàng rào bảo vệ để cật lực miết tay trên những tấm bia đá. Và nực cười hơn, người ta ngang nhiên "hối lộ" cụ rùa cõng bia, bằng cách đặt hàng nắm những tờ tiền lẻ trên các đầu và mai rùa. Sự trang trọng và tôn nghiêm của những tấm bia  đang bị người đời phá hỏng.

Nếu chỉ hiểu được ít nhiều những bài ký trên bia qua áng văn bất hủ được viết bằng chữ Hán thì ắt hẳn sẽ bớt đi ý thức tự phát của người dân với cơn nghiền sùng tín lạ kỳ. Nhưng kể cả khi căng mắt dò tìm những dòng chữ nhỏ li ti khắc trên bia đá thì cũng chả mấy ai có thể biết được chữ Hán mà hiểu được ý tứ thanh tao, sâu sắc của các bậc hiền nhân khoa bảng khi xưa.

Vì vậy, nên chăng, việc dịch văn bản gốc từ chữ Hán sang tiếng Việt là cần thiết vô cùng để mọi người cùng được đọc. Phải chăng đó cũng là việc làm thiết thực, nhất là khi dịp Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội đang tới gần

Trần Mỹ Hiền
.
.
.