Bài 2: Không gian nào cho tượng đài ở Hà Nội
Y phục có xứng với kỳ đức
Trên thế giới có những tượng đài lừng lững sống qua thời gian, sống qua hàng thế kỷ. Còn Việt Nam ở xứ sở phương Đông, tâm lý người Việt lại không lấn át chế ngự ai trong không gian sống, cho nên cái đẹp của những công trình kiến trúc là biết nương nép, vịn và lấy cái cớ của thiên nhiên để cùng tồn tại.
Nên nếu có to lớn, chất ngất thì cũng cất trong đình, trong chùa. Nghĩa là cái đẹp không phải ở sự đồ sộ mà đẹp bởi vẻ hài hòa cùng với thiên nhiên. Thiên nhiên là một yếu tố không thể thiếu được ở cảnh quan kiến trúc.
Tại Hà Nội có 12 tượng đài, vậy mà ý kiến khen dường như đều dồn cả vào hai công trình tượng đài không phải do người Việt xây dựng. Tượng đài Lênin đặt tại Công viên Lênin tọa lạc tại đường Điện Biên Phủ và tượng Louis Pasteur đặt tại Vườn hoa Pasteur trước cửa Viện Vệ sinh dịch tễ.
Tượng đài Lênin quanh năm bóng mát, cây xanh. Tại đây, năm 1931, người Pháp dựng một tượng đài lớn miêu tả cảnh lính Pháp đang chĩa súng và đại bác vào thành Hà Nội đặt tên là “Souvernir à nos héros” (Tưởng niệm các anh hùng của chúng ta) kỷ niệm sự kiện người Pháp chiếm thành Hà Nội, người dân ta gọi là Vườn hoa Canh nông.
Sau cách mạng thì tượng đài này bị phá. Đến năm 1984, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô trao tặng cho Hà Nội tượng đài Lênin được đúc bằng đồng bạch cao 5,2m, đúc từ Nga đưa sang do 2 kiến trúc sư người Nga là G. Ixakovich và A. Chumenkov thiết kế. Khi dựng tượng đài thì Vườn hoa Canh nông đổi tên thành Vườn hoa Lênin.
Tượng bác sĩ Louis Pasteur đặt tại Vườn hoa Louis Pasteur trước cửa Viện Vệ sinh dịch tễ được dựng và quy hoạch hoàn toàn vào thời Pháp. Pho tượng đẹp đặt trong một khuôn viên vườn xinh xắn, mở ra một khoảng tầm nhìn sâu.
Những tượng đài còn lại có lẽ chưa thuyết phục được công chúng. Có những bức tượng vẫn ngày ngày lạc lõng, buồn tủi trong không gian công cộng.
Tại góc hồ Hoàn Kiếm, khu vực đền Bà Kiệu sừng sững Tượng đài “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, người ta vẫn tiếc nuối, giá mà nó mềm mại trong những đường bay, lát cắt, hay nó nhỏ nhắn hơn và tinh tế hơn thì nó đã không phá đi cảnh quan chung của một môi trường cần yên ả, thư thái.
Nơi mà liễu rủ mặt hồ lung linh với nắng hồng và gió nhẹ thì bị trấn áp bởi những khối đúc đá to xù, cứng ngắc và nặng nề. Những ai từng chứng kiến thăng trầm của mảnh đất thủ đô vẫn không khỏi bồi hồi về cây đa có niên đại hàng trăm tuổi ôm lấy đền bà Kiệu.
Khi xây dựng tượng đài, người ta buộc phải chặt phát quang cây đa, làm mất đi cái dáng vẻ cổ kính và nguyên sơ ban đầu.
Bên cạnh tượng đài vốn đã xấu chưa kịp chữa chạy lại thì lại tiếp tục đến Tượng đài “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” ở vườn hoa Hàng Đậu. Tượng đài bằng đá cao gần 4m nó quá to, quá thô trong vườn hẹp và dài. Vườn hoa Hàng Đậu được quy hoạch từ thời Pháp, trước mặt có hai công trình tháp nước và bốt Hàng Đậu cũng có từ thời Pháp.
Nếu nhìn theo một trục thẳng thì Tượng đài “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” bị án ngữ bởi hai công trình cũ là một vòi phun nước trước mặt ở vị trí rất gần và cả công trình tháp nước lừng lững che khuất, sau lưng tượng đài là một dãy nhà vệ sinh công cộng do Công ty Vệ sinh môi trường dựng nên. Với một bối cảnh không gian như vậy thì ý nghĩa tâm linh tưởng niệm cũng như yếu tố hài hòa có còn?
Tất nhiên nếu đứng riêng ra thì về ngôn ngữ tạo hình sẽ có sức thuyết phục hơn nhưng đặt nó vào không đúng chỗ, xử lý điêu khắc không phù hợp với ngôn ngữ kiến trúc xung quanh. Một tượng đài ghi nhớ công ơn thầm lặng của những người con anh dũng bảo vệ mảnh đất quê hương lại vô tình phạm phải những điều cấm kị.
Đằng sau, phía trước, bên tả, bên hữu, vì cây xanh không đủ để chạy dọc con phố Quán Thánh và phố Phan Đình Phùng vô tình một đồng chí chĩa bom ba càng xuống nhà bên Quán Thánh, còn đồng chí nữa thì vung gươm, vung súng chĩa ra phố Lý Nam Đế với Phan Đình Phùng.
Đến nỗi, họa sĩ Lương Xuân Đoàn - Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa - Văn nghệ, Ban Tuyên giáo Trung ương đã thốt lên: "Dựng tượng đài phạm phải lỗi mà lẽ ra không được phạm về tâm linh, rất gây phản cảm về thị giác...".
Bức phù điêu “Hà Nội mùa đông năm 1946” dựng ngay tại ngách tay phải chợ Đồng Xuân, chỗ buôn bán nhốn nháo, hỗn loạn của những người buôn chuyến đổ dồn về khu chợ, dãy quán hàng ăn phục vụ chợ đêm.
Vậy là trong một không gian cùng với tất cả văn minh "vỉa hè" ngày ngày của cư dân ăn đêm và sống đêm. Một tượng đài tưởng niệm những chiến sĩ cảm tử đã dũng cảm chiến đấu và hy sinh trong 60 ngày đêm để bảo vệ thủ đô Hà Nội lại nằm lọt thỏm trong khu buôn bán như vậy liệu có là hợp lý?
Công trình kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng thủ đô Hà Nội là Tượng đài Vua Lý Thái Tổ được coi là công trình đồ sộ hơn cả. Lần đầu tiên Hà Nội đúc tượng Vua Lý Thái Tổ - vị vua khai phá và mở mang vùng đất Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.
Tượng nặng 32 tấn, tổng chiều cao của cả bệ đồng và tượng 10,1m, trong đó tượng cao 6,8m và bệ đồng cao 3,3m. Tuy nhiên, có một số điều đáng nói ở đây là trong khi khuôn viên Vườn hoa Chí Linh chỉ bé bằng một nửa Vườn hoa Lênin thì lại chễm chệ đặt tượng Vua Lý Thái Tổ to gấp đôi tượng Lênin điều này gây ảnh hưởng về tầm nhìn khi khách tham quan đến chiêm bái tượng.
Một yếu tố tâm linh nữa mà những người thiết kế và dựng tượng đài Vua Lý Thái Tổ không để ý khi đặt tượng ở vị trí đó: Tượng đài Vua Lý Thái Tổ nằm trên nền vườn hoa Chí Linh. Vườn hoa này được quy hoạch dưới thời Pháp thuộc có tên là Vườn hoa Paul Bert (là tên viên Toàn quyền đầu tiên của Pháp ở Việt
Năm 1890, người Pháp dựng tượng Paul Bert ở vườn hoa này, bức tượng bằng đồng được đúc ở Pháp, tượng to hơn người thật, một tay cầm cờ Pháp một tay giơ ra chỉ lên đầu một người dân An Nam búi tóc đang khúm núm, khi đó người dân Việt Nam rất ghét bức tượng này.
Năm 1896, dân gian dựng lên bức tượng Vua Lê Thái Tổ đối diện tượng Paul Bert đặt ở bên kia hồ, tượng được đúc bằng đồng do các nghệ nhân làng Ngũ Xã đúc, cho đến nay vẫn không hề bị han gỉ, tượng đặt trên một trụ đá rất cao động tác phóng kiếm xuống mặt hồ, nhưng trên thực tế là chỉ kiếm sang mặt tượng Paul Bert.
Chỉ sau đó một thời gian những bức tượng người Pháp cho dựng đều bị kéo đổ. Nay đặt tượng Vua Lý Thái Tổ ở đúng vị trí như vậy, không biết có nên không?!--PageBreak--
Văn hóa tượng đài: mỗi người một ý
Quy hoạch kiến trúc về dựng tượng đài có tương quan như thế nào trong không gian, trong một tương quan tỉ lệ với cảnh quan xung quanh nó. Tại sao ngay trong quy chế quy định mỗi công trình xây dựng một tượng đài đều có cả một hội đồng thẩm định nghệ thuật với 2/3 là những nhà chuyên môn lành nghề, vậy mà kết quả vẫn không như mong muốn. Phóng viên Chuyên đề ANTG đã có cuộc trao đổi với những người có trách nhiệm liên quan và những người làm công tác văn hóa. Dưới đây là ý kiến của họ.
- Nhà điêu khắc - họa sĩ Đào Hải Châu - giảng viên Trường đại học Mỹ thuật Hà Nội, từng là thành viên của nhiều Hội đồng thẩm định nghệ thuật cho biết:
Hội đồng nghệ thuật chả có quyền lực hay quyết định gì cả bởi vì Hội đồng nghệ thuật mang tính chất tư vấn chứ không quyết định. Tư vấn là có thể nghe hay không tùy anh.
Hội đồng tư vấn thì 2/3 là những nhà chuyên môn nhưng nhiều khi không được như vậy vì không phải lúc nào ở các địa phương cũng đủ các nhà chuyên môn để chiếm tỉ lệ đó. Nên người ta đã thay thế vào đó là cán bộ quản lý, một ông kiến trúc sư, một quan chức văn hóa...
Nhưng điều đấy không quan trọng, quan trọng là Hội đồng nghệ thuật phải có tiếng nói quyết định về chuyên môn. Ví dụ như chủ đầu tư có thể đưa ra nội dung yêu cầu những đề cương tác phẩm, nhưng nội dung của đề cương đó phải được người nghệ sĩ chuyển hóa thành ngôn ngữ thì nó mới có giá trị chứ không phải là mô phỏng theo hoặc rập khuôn một cách máy móc như là nội dung tư tưởng của chủ đầu tư đưa ra. Cái nội dung ấy phải được truyền tải bằng ngôn ngữ của nghệ thuật.
- Nhà nghiên cứu văn hóa Hữu Ngọc nhận xét:
Ở ta các công trình tượng đài không chê chỗ nọ thì cũng phải khiếm khuyết chỗ kia. Nguyên do là làm tượng đài nhiều khi bỏ thầu, rồi ăn cánh với nhau, thành thử ra chất lượng công trình kém. Như Tượng đài Chiến thắng Điện Biên bị sụt, lún, nứt, sau này đã khởi tố và bắt giam đến hàng chục người.
Vậy đầu tiên là phải chống tham nhũng. Vấn đề thứ hai là phải công khai. Bây giờ phải có cuộc thi và nếu tượng đài quy mô lớn, nên có một hội đồng giám khảo quy tụ những người nghệ sĩ tài năng, có tâm đức nằm trong hội đồng đó.
Vấn đề chính của việc xây dựng tượng đài là nó không được tách ra khỏi môi trường nhân văn. Nhiều khi ta cứ xây dựng tượng đài, rồi mới tính đến môi trường. Nên trông như là tượng ghép vào, tạo nên một bức tranh không hoàn chỉnh, khiếm khuyết.
Thứ hai, tượng đài của chúng ta có ba giai đoạn. Giai đoạn 1 là nước ta không có hoàn cảnh để dựng tượng đài. Trong 30 năm chiến tranh khói lửa mịt mù ta làm gì có thì giờ mà dựng tượng đài. Giai đoạn 2, trong kháng chiến hay bắt đầu kháng chiến tượng đài của ta theo hình mẫu của Nga cho nên theo phong cách của xứ lạnh, tượng rất to lớn, mạnh mẽ, hoành tráng, cứng.
Cái tâm hồn của người Việt khác, đòi hỏi sự tinh tế, dung dị, sâu lắng. Giai đoạn 3 là thời kỳ đổi mới thì lại sang cái linh tinh mô đéc, hỗn loạn. Giờ ta phải tìm ra tính dân tộc, hồn cốt Việt trong mỗi tượng đài nếu còn muốn tiếp tục xây dựng...
- Họa sĩ Lương Xuân Đoàn bức xúc:
"Kinh khủng nhất là tượng đài Việt
Anh không thể thua kém người nghệ sĩ trong sự hiểu biết được. Nhưng ở đây bản thân người quản lý phải nói một cách thẳng thắn là trình độ còn rất hạn chế. Cũng là từ khâu đào tạo của mình đội ngũ cán bộ quản lý không đủ đáp ứng, mà chúng ta không quá quan tâm đến việc này để đưa đi đào tạo ở nước ngoài từ rất sớm ở trong lĩnh vực này.
Đã là công trình đưa ra không gian công cộng thì người dân bình thường nhất cũng được tiếp nhận một thị hiếu chuẩn, một cách nhìn tốt về văn hóa, nghệ thuật. Nghệ thuật đôi khi ở nơi không gian công cộng.
Tượng đài đẹp thì từ đứa trẻ sẽ tiếp thu cái đẹp từ con mắt đầu đời, còn nếu đã xấu thì ngay từ bé đã cảm nhận cái xấu và không có cách gì có thể gạt cái xấu ra khỏi cảm nhận nghệ thuật. Cuối cùng người ta cảm thấy tự bằng lòng và cái đấy tai hại vô cùng, nó sẽ làm hỏng biết bao thế hệ đời sau.
Bản thân chúng ta hôm nay đang có điều kiện để phát triển đất nước trong nền kinh tế tăng trưởng cũng như đặt vấn đề hội nhập mạnh hơn với những thứ bên ngoài. Rõ ràng lợi thế thay đổi bộ mặt văn hóa quốc gia rất lớn nhưng song song với nó thì bên cạnh còn có một nguy cơ khác là chúng ta đang ngắt cầu quá khứ để làm một bàn tròn văn hóa hiện đại Việt
Chưa biết nó hiện đại đến đâu nhưng chỉ biết rằng nó đang tước bỏ đi khuôn mặt đẹp nhất của văn hóa Việt
