An toàn bức xạ tại các cơ sở y tế: Không thể coi thường

Thứ Tư, 23/07/2008, 09:15

Trong lĩnh vực y tế hiện nay đang sử dụng khá phổ biến các nguồn bức xạ để phục vụ việc chẩn đoán, điều trị bệnh (đặc biệt là điều trị ung thư) như máy X-quang chẩn đoán, máy xạ trị và dược chất phóng xạ... Tuy nhiên, đây cũng là “con dao hai lưỡi” bởi nếu không được đầu tư trang thiết bị đủ điều kiện an toàn và kiểm soát chặt chẽ thì đây lại là một tác hại rất nguy hiểm đối với nhân viên y tế, người bệnh và môi trường...

Phòng chụp X-quang: những con số giật mình

Theo thống kê của Cục Y tế Dự phòng và Môi trường (Bộ Y tế) hiện nay các chỉ tiêu an toàn bức xạ của phòng chiếu chụp X-quang như diện tích phòng máy, tường trát barit, cửa chắn chì, buồng điều  khiển, kính chì ô quan sát, chất lượng máy cũng như phương tiện phòng hộ cá nhân đều.. giảm dần từ tuyến trung ương đến tuyến quận, huyện. Có tới 75% cơ sở phòng ốc và phương tiện phòng hộ cá nhân không đảm bảo theo quy định; 70% cửa ra vào và các cửa sổ của các phòng chiếu chụp X-quang chưa được áp dụng biện pháp chắn tia X.

Tình trạng nhiễm xạ khu vực ngoài phòng chiếu chụp X-quang ở nhiều nơi có liều suất cao và nhiều chỗ vượt mức cho phép nhiều lần, thường là ở cửa ra vào và cửa sổ, có vị trí cao gấp 40 lần và khi chiếu thẳng gấp 500 lần cho phép. Tại khu vực làm việc của phòng X-quang có nhiều nơi có phông bức xạ vượt mức cho phép thậm chí có nơi bệnh nhân còn phải ngồi chờ trong phòng máy với điều kiện như vậy.

Có một thực tế đang tồn tại từ nhiều năm nay là do tiền đầu tư cho một phòng chụp X-quang là rất tốn kém nên tại nhiều cơ sở y tế vẫn phải sử dụng máy đã quá cũ, không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn. Không chỉ các tỉnh mà ngay tại trung tâm lớn như TP. Hồ Chí Minh, hiện vẫn sử dụng nhiều máy y tế sản xuất từ... những năm 70 của thế kỷ trước, máy X-quang một pha nửa sóng kỹ thuật rất lạc hậu. Về nguyên tắc máy X-quang thông thường không được chụp răng nhưng thực tế này vẫn diễn ra hàng ngày

Còn tại Hà Nội, qua kiểm tra 118 cơ sở X-quang y tế, Thanh tra Sở Khoa học - Công nghệ (KH-CN) đã phát hiện vi phạm tại 17 cơ sở, đó là hoạt động không có giấy phép, sử dụng giấy phép đã hết hạn, để lọt tia bức xạ quá mức liều giới hạn cho phép; vi phạm điều kiện được quy định trong giấy phép; không trang bị liều xạ kế cá nhân cho nhân viên bức xạ (trong khi đây là thiết bị không thể thiếu đối với nhân viên làm việc thường xuyên trong môi trường này). Điều đáng nói là trong số các cơ sở vi phạm, có 2 cơ sở của... Trung tâm Y tế dự phòng.

Cuối tháng 6/2008, đoàn kiểm tra liên ngành của Phòng Cảnh sát Môi trường (PC36) phối hợp với Sở KH-CN khi kiểm tra Phòng khám đa khoa tại 70 Nguyễn Chí Thanh của Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội đã phát hiện tại đây thực hiện chụp X-quang mà không xin phép. Không những thế, phòng chụp X-quang này còn vi phạm quy định về phòng ốc bởi nơi đặt máy được tận dụng từ một nhà để xe cũ nằm trong khuôn viên Trung tâm Y tế dự phòng, trong khi theo quy định: khu vực để máy chụp phải có diện tích tối thiểu 14m2 trở lên và máy chụp X-quang cho những chuyên khoa như răng phải đảm bảo che chắn, người bệnh phải mặc áo chì nếu không sẽ tạo nên bức xạ...

Mới đây nhất, ngày 10/7/2008, PC36 phối hợp với Cục Kiểm soát và An toàn bức xạ, hạt nhân (KS&ATBXHN), Bộ KH-CN, bất ngờ kiểm tra các phòng chụp X-quang thuộc Trung tâm Y tế dự phòng huyện Gia Lâm lại phát hiện những sai phạm tại phòng chụp: không trình được giấy phép hoạt động cho phòng chụp X-quang; phòng đặt máy không đủ quy chuẩn và không có các tấm cao su chì bảo vệ các khe cửa ra vào. Tại thời điểm kiểm tra đoàn công tác đã đo được lượng tia bức xạ lọt ra ngoài gấp 4 lần quy chuẩn cho phép.

Nhiều tổn thương nghiêm trọng từ bức xạ ion hóa

Theo cảnh báo của Cục KS&ATBXHN, từ khi bức xạ ion hóa được phát hiện, tác hại của nó đối với sức khỏe con người và môi trường ngày càng được biết rõ hơn. Các nguồn bức xạ (bao gồm nguồn phóng xạ và các thiết bị bức xạ) đang được sử dụng rộng rãi trong y tế, công nghiệp, nông nghiệp, nghiên cứu, đào tạo; các nguồn bức xạ có thể bị đánh cắp hoặc mất cắp, hoặc có thể bị mất kiểm soát và có thể gây tổn thương cho người tiếp xúc với chúng.

Sau khi bị chiếu xạ ở mức liều cao, các tổn thương sẽ phát triển theo thời gian, theo từng giai đoạn. Thời gian của từng giai đoạn xảy ra phụ thuộc vào liều bức xạ. Liều thấp không gây ra các tổn thương và các hiệu ứng có thể quan sát được.

Diễn biến điển hình sau khi bị chiếu xạ toàn thân từ một nguồn bức xạ có khả năng đâm xuyên lớn gồm giai đoạn khởi phát với các triệu chứng buồn nôn, nôn mửa, mệt mỏi, có thể bị sốt kèm theo triêu chảy. Tiếp theo là thời kỳ ủ bệnh với thời gian khác nhau, đặc trưng bởi các triệu chứng viêm nhiễm, chảy máu, các bệnh liên quan đến đường ruột, cơ quan tiêu hóa. Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới các triệu chứng trong thời kỳ này là do thiếu máu và trong trường hợp liều chiếu xạ cao là do thiếu tế bào thuộc hệ thống đường ruột - dạ dày.

Trong trường hợp bị chiếu xạ cục bộ lên bộ phận cơ thể, tùy thuộc liều chiếu, nạn nhân có thể bị các triệu chứng, dấu hiệu như ban đỏ, phù nề, bỏng rộp khô/ướt, tróc da, rụng lông, tóc hoặc bị hoại  tử. Tổn thương da cục bộ do bức xạ thường rất chậm hồi phục, hàng tuần thậm chí hàng tháng, rất đau và khó điều trị bằng các phương pháp điều trị bỏng da thông thường...      

Mặc dù tính nguy hiểm từ máy X-quang trong chẩn đoán y khoa là thấp vì mức độ ảnh hưởng chỉ mang tính cục bộ, nhất thời, dễ dàng quản lý và khắc phục nếu xảy ra sự cố về thiết bị. Tuy nhiên, không có nghĩa là không nguy hiểm, nhất là với những người thường xuyên phải làm việc với máy mà không được trạng bị đầy đủ thiết bị bảo hộ. Theo Cục Y tế Dự phòng và Môi trường, một nghiên cứu về sức khỏe các nhân viên y tế ở Hải Phòng làm việc với tia bức xạ ion hóa cho thấy trong 96 nhân viên thường xuyên tiếp xúc với bức xạ ion, có người đã vô sinh, suy giảm bạch cầu, không ít trường hợp mẫn cảm dị ứng phải chuyển sang bộ phận khác.

Năm 2009 mới triển khai kiểm soát chiếu xạ y tế

Và để làm rõ việc quản lý các nguồn phóng xạ sử dụng trong y tế hiện nay được quản lý ra sao, phóng viên ANTG có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Đặng Thanh Lương (ảnh), Phó cục trưởng Cục KS&ATBXHN.

PV: Thưa ông, hiện có bao nhiêu nguồn phóng xạ được sử dụng trong lĩnh vực y tế?

Tiến sĩ Đặng Thanh Lương: Có thể phân nguồn phóng xạ trong lĩnh vực y tế thành 2 loại: Một là nguồn từ máy X-quang, nghĩa là dùng tia X để chẩn đoán và điều trị bệnh. Máy X- quang chỉ phát xạ khi được nối với nguồn điện và đây là loại máy khá phổ biến tại các cơ sở y tế của Nhà nước và tư nhân với khoảng gần 2.000 cơ sở trong cả nước. Nguồn thứ hai là sử dụng các đồng vị phóng xạ để điều trị bệnh. Nguồn này lại được chia làm 2 loại, nguồn kín và nguồn hở:

Nguồn kín là các máy có sử dụng đồng vị phóng xạ như máy xạ trị  Cobatl (sử dụng đồng vị Co-60), máy gia tốc, dao phẫu thuật bằng tia gamma... Toàn quốc hiện có khoảng 15 cơ sở sử dụng 9 máy gia tốc và 19 nguồn phóng xạ xạ trị chủ yếu là tại các bệnh viện đầu ngành của Nhà nước như Bệnh viện K, Bạch Mai, Ung bướu, Chợ Rẫy... bởi giá thành của những loại máy này rất đắt (khoảng trên dưới 1 triệu USD/ máy tùy từng loại). 

Nguồn hở là các chất phóng xạ được đưa trực tiếp vào trong cơ thể  qua đường tiêu hóa hoặc tiêm để chẩn đoán và chữa trị bệnh.

PV: “Có tới 90% liều bức xạ do các nguồn nhân tạo con người nhận được là do chiếu xạ y tế gây nên. Vấn đề đảm bảo an toàn cho các nhân viên y tế, người bệnh, đặc biệt là công tác kiểm soát bức xạ ở các cơ sở y tế, nhất là tại các cơ sở có sử dụng nguồn phóng xạ từ các đồng vị phóng xạ đã được thực hiện như thế nào, thưa ông?

TS Đặng Thanh Lương:  Hiện cả nước có 3.000 bác sĩä, nhân viên y tế thường xuyên phải tiếp xúc với nguồn phóng xạ. Những người này được kiểm soát, theo dõi liều chiếu xạ thường xuyên theo quy định của Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ. Việc theo dõi do 2 đơn vị được ủy quyền tiến hành. Chúng tôi đã ghi nhận một số trường hợp liều phóng xạ vượt quá mức cho phép, nhưng khi xác minh  lại thì không đúng như vậy mà nhiều khi do nhân viên để quên liều kế trong phòng máy khiến chỉ số của liều kế tăng ở mức cao.

Cũng có một số trường hợp các máy xạ trị bị tắc nguồn phóng xạ và các bác sĩ, nhân viên y tế vào xử lý sự cố thì có thể nhận một liều nào đó, tuy nhiên cũng chưa đến mức vượt qua giới hạn cho phép. Mặc dù vậy hiện nay số nhân viên y tế tham gia làm các thủ thuật X-quang can thiệp ngày càng tăng. Đối với nhóm nhân viên y tế này cần phải được quan tâm hơn nữa về việc kiểm soát liều cá nhân vì thời gian làm việc trong phòng X-quang khá dài, nguy cơ bị chiếu xạ tăng nếu không tuân thủ tốt các biện pháp bảo vệ chống bức xạ.

Đảm bảo an toàn bức xạ đối với bệnh nhân là hết sức cần thiết. Nhưng hiện nay việc đánh giá an toàn bức xạ với bệnh nhân, đặc biệt là trong chẩn đoán X-quang y tế mới chỉ được thực hiện trong một vài đề tài nghiên cứu khoa học ở phạm vi hẹp nên chưa phản ánh được tổng thể về vấn đề đảm bảo an toàn cho bệnh nhân ở Việt Nam.

Để giải quyết vấn đề này, hiện nay, Cục KS&ATBXHN đang được giao nhiệm vụ xây dựng Đề án “Tăng cường năng lực quốc gia về bảo đảm an toàn bức xạ, an ninh nguồn phóng xạ và vật liệu hạt nhân”. Đây là đề án thuộc Kế hoạch tổng thể thực hiện “Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bộ KH-CN sẽ phối hợp của Bộ Y tế thực hiện kiểm soát chiếu xạ y tế trong dự án này và hy vọng sẽ  triển khai trong năm 2009.

PV: Thưa ông, công tác thanh, kiểm tra các cơ sở y tế có sử dụng nguồn phóng xạ được thực hiện như thế nào?

TS Đặng Thanh Lương:  Hàng năm Cục KS&ATBXHN phối hợp với thanh tra Bộ KH-CN, thanh tra Sở KH-CN tiến hành khoảng 120 cuộc thanh tra trên địa bàn 12 tỉnh và thành phố. Ngoài ra thanh tra các sở cũng thực hiện thêm khoảng 600 cuộc thanh kiểm tra. Việc này đã giúp cho ý thức thực hiện pháp luật về an toàn và kiểm soát bức xạ của các chủ cơ sở  bức xạ tăng lên đáng kể.

Mặc dù vậy vẫn còn một số cơ sở đến nay vẫn chưa xin cấp phép. Mặt khác vẫn tồn tại một số bất cập trong hệ thống văn bản như có sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản (như về thời hạn kiểm định X-quang y tế), một số quy định khó áp dụng trong thực tiễn (như quy định về diện tích phòng X-quang), một số văn bản hướng dẫn còn thiếu chi tiết, khó áp dụng (như bản đánh giá an toàn bức xạ trong hồ sơ xin cấp phép)...

Do an toàn bức xạ, hạt nhân là lĩnh vực mới nên nhân lực của cơ quan quản lý Nhà nước về an toàn kiểm soát bức xạ còn hạn chế. Số cán bộ chuyên trách quản lý khá mỏng (một địa phương lớn như TP HCM mà chỉ có 3 cán bộ theo dõi gần 300 cơ sở X-quang; Hà Nội 2 người theo dõi gần 200 cơ sở X-quang; Sở KH-CN Cần Thơ chỉ có 1 thanh tra), thiếu cán bộ được đào tạo cơ bản về hạt nhân, trang thiếu bị hạn chế...

Không những thế, chúng ta thiếu những chuyên gia y vật lý  trong y tế, điều này có thể dẫn tới giảm hiệu quả điều trị và chẩn đoán bệnh; đôi khi có thể gây ra sự cố chiếu quá liều đối với bệnh  nhân. Vai trò của các nhà y vật lý cần được xác định rõ tại các bệnh viên và cần có chương trình đào tạo riêng cho chuyên ngành này.  Do vậy vấn đề đào tạo nguồn nhân lực và tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác bảo đảm an toàn bức xạ và hạt nhân cho các cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp, các cơ sở sử dụng nguồn bức xạ cần phải được tăng cường hơn nữa trong thời gian tới.

PV: Xin cảm ơn ông!

Nguyễn Thiêm
.
.
.