Cuốn lịch và quyền lực của triều đình

Thứ Sáu, 27/03/2026, 15:03

Thời phong kiến, phạm vi quyền lực triều đình không chỉ được thể hiện qua việc sử dụng niên hiệu, tước phong, tên và cấp địa phương được ban cho, mà còn thể hiện trong việc áp dụng bộ lịch của triều đại ấy.

Nhận và ban chính sóc

Sử sách vẫn ghi việc sử dụng một bộ lịch là “tuân theo chính sóc”, trong đó “chính” là tháng Giêng âm lịch, “sóc” là ngày mùng 1, đầu tháng. Theo chú thích trong bộ “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, thì thời cổ ở Trung Quốc, mỗi triều đại lên vẫn có chuyện đổi chính sóc, như nhà Ân thì đặt tháng 12 của nhà Hạ làm tháng Giêng, nhà Chu thì dùng tháng 11 của nhà Hạ làm tháng Giêng. Vì thế, khi nói là phải theo chính sóc của một triều đại nào, tức là phải lệ thuộc vào triều đại ấy.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình -0
Tái hiện sân khấu hóa lễ ban sóc triều Nguyễn. Ảnh: Hải Lan

Do đó, để khẳng định ảnh hưởng của mình đối với các quốc gia lân cận, các triều đình phong kiến Trung Quốc thường xuyên ban lịch cho nước ta, cũng như các nước láng giềng như Nam Việt, Cao Ly, Đại Lý. Đồng thời, các triều đại phong kiến Việt Nam cũng tiến hành ban lịch cho các nước nhỏ, phụ thuộc như Chân Lạp, rồi Thủy Xá, Hỏa Xá (thời nhà Nguyễn).

Như trong “Đại Việt sử ký toàn thư” có chép, vào năm Bính Dần 1266, đời Vua Trần Thánh Tông, do trước đó có đoàn sứ thần Mông Cổ sang nước ta ban hành tờ chiếu về việc nước họ đổi niên hiệu mới (Chí Nguyên) và trao cho niên lịch năm Bính Dần, vì thế nhà vua sai Dương An Dưỡng đem thư sang Mông Cổ.

Hay, vào năm Giáp Tý, niên hiệu Khai Thái năm thứ nhất (1324), đời Vua Trần Minh Tông, vua Nguyên sai Mã Hợp Mưu (phiên âm tên Hồi giáo Mahmud) và Dương Tông Thụy sang nước ta báo tin vua Nguyên lên ngôi và trao cho một quyển lịch.

Khi chép về cuộc kháng chiến chống quân Minh, “Toàn thư” vui mừng ghi rằng sau chiến thắng Tốt Động - Chúc Động, quân Minh bị vây trong thành Đông Quan và các thành lớn, còn đất đai cả nước đều do nghĩa quân Lam Sơn quản lý, nên “chính sóc của giặc Minh không còn được dùng ở các quận, huyện nước ta nữa”.

Hoặc, về việc nhà Mạc thần phục nhà Minh năm 1541, sử nhà Minh viết: “Mạc Đăng Dung tự trói mình đầu hàng ở cửa ải, xin kính theo chính sóc, xóa bỏ tiếm hiệu, trả lại đất bốn động đã chiếm, xin nội thuộc xưng thần, xin hằng năm ban lịch Đại Thống và bù đủ lễ vật tiến cống hằng năm, cúi mình cung kính thuận phục”. Năm đó, sau khi Mạc Đăng Dung chết, vua Minh đã sai ban ơn cho cháu của Mạc Đăng Dung là Mạc Phúc Hải 1.000 bản lịch Đại Thống.

Đến khi dư đảng của nhà Mạc ở Cao Bằng suy yếu, năm 1625, đời Vua Lê Thần Tông, chúa Trịnh Tráng sai quận công Trịnh Kiều đi đánh Cao Bằng, bắt được Vua Mạc Kính Cung giải về kinh sư xử trảm. Cháu Mạc Kính Cung là Mạc Kính Khoan, lúc đó cũng xưng là vua, niên hiệu Long Thái, xin hàng chúa Trịnh. Triều đình y cho, phong cho Kính Khoan chức Thái úy Thông quốc công, bắt bỏ hết ngụy hiệu, tuân theo chính sóc triều đình, lại cho hết đời này đến đời khác trấn giữ một phương làm một nơi phiên trấn.

Việc triều Nguyễn ban lịch cho thuộc quốc được ghi nhiều lần trong bộ chính sử của triều đại này là “Đại Nam thực lục”, như vào năm Minh Mạng thứ 20 (1839), vào tháng Chạp, nhà vua sai “cải cấp quan lịch cho thành Trấn Tây (tức đất Cao Miên, khi trước chỉ cấp quan lịch 1 chuyến, dân lịch 100 quyển, nay cấp thêm)”.

Hay, vào năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), nhà Nguyễn phong cho Vua Cao Miên là Nặc Ong Run (Ang Duong) tước quốc vương. Khi có các Phiên mục thay mặt Nặc Ong Run sang dâng biểu tạ, Vua Thiệu Trị định lệ cho Cao Miên 3 năm dâng cống lễ một lần, và ban cho nước Cao Miên 1 quyển quan lịch, 100 quyển dân lịch.

Làm lịch và ban cho các quan

Dù vậy thì việc nhận lịch của các triều đình Trung Quốc chỉ mang tính chất ngoại giao là chính. Các triều đình Việt Nam vẫn phải tự tính lịch, in lịch để ban bố cho các địa phương cả nước. Việc làm lịch, in lịch bắt đầu từ khi nào, sử sách không ghi rõ. Tuy nhiên, “Toàn thư” có ghi sự kiện diễn ra năm Khai Hựu thứ 11 (1339) đời Vua Trần Hiến Tông, rằng: “Mùa xuân, đổi tên lịch Thụ Thì thành lịch Hiệp Kỷ. Đó là theo lời tâu của Hậu nghi lang Thái sử cục lệnh là Đặng Lộ. Bộ sử này cũng cho biết thêm: “Lộ là người huyện Sơn Minh (tức Ứng Hòa, Hà Nội sau này), từng làm “linh lung nghi” (tức máy móc khảo sát vòm trời, các vì sao) thảo nghiệm thiên tượng, không việc gì là không đúng”.

Cuốn lịch và quyền lực của triều đình -0
Ấn vàng “Trị lịch minh thời chi bảo” đúc năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), dùng để đóng vào chiếu ban chính sóc.

Hay, đến năm 1401, đời Vua Hồ Hán Thương, niên hiệu Thiệu Thành năm thứ nhất, vào tháng 4, Vua Hồ Hán Thương cho đổi tên lịch Hiệp Kỷ của nhà Trần thành lịch Thuận Thiên.

Dù có đổi tên nhiều lần thì tên các bộ lịch của nước ta cũng giống các bộ lịch của Trung Quốc. Nguyên do là từ văn bản cổ xưa nhất về việc tính lịch, là thiên đầu tiên của bộ Kinh Thi kể về việc Vua Nghiêu sai họ Hy và họ Hòa nhận mệnh trời, quan sát nhật nguyệt, các vì sao mà bảo ban thời vụ cho dân: “Nãi mệnh Hy Hòa, khâm nhược hạo thiên, lịch tượng nhật nguyệt tinh thần, kính thụ dân thì”. Còn thiên Hồng Phạm trong Kinh Thi kể ra các trù, trong đó trù thứ tư là “Hiệp dụng ngũ kỷ”, tức gộp dùng năm kỷ, là năm công cụ dùng để ghi thời gian: tuế (năm), nguyệt (tháng) tinh thần (các vì sao), lịch số. Do đó, các triều đại phong kiến Trung Quốc và cả nước ta đều lấy các từ trong những đoạn văn này để đặt tên cho bộ lịch của mình, như lịch Thụ Thì, Hiệp Kỷ, Khâm Thụ, Thuận Thiên, hay tên cơ quan thiên văn, tính lịch là Khâm Thiên giám. Đến thời chúa Nguyễn Ánh thì tên bộ lịch đổi là Vạn Toàn.

Sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh thành công, triều Hậu Lê được lập, cơ quan phụ trách thiên văn, lịch pháp, gọi là Thái sử viện. Theo sách “Quan chức chí” trong bộ “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú, thì trong cơ quan Thái sử viện có các chức quan: Thái sử lệnh (đứng đầu), Thái sử thừa (cấp phó), Linh đài lang (chuyên trách quan trắc thiên văn), Thái chúc (chuyên trách nghi lễ) và Chưởng lịch (chuyên trách tính lịch). “Toàn thư” có ghi việc năm 1434, Bùi Thì Hanh được bổ nhiệm làm Thái sử thừa, quân nhân Nguyễn Công Gia làm Chưởng lịch, Hộ Bộ Chủ sự Dương Huyền Trung làm Linh đài lang vào năm 1435. Đến năm 1448, Bùi Thì Hanh được làm Thái sử lệnh.

Về trách nhiệm của quan làm lịch, bộ “Đại Nam thực lục” ghi lời chúa Nguyễn Ánh nói với các quan chiêm hậu là Lê Đức Lộc và Nguyễn Ngọc Lân năm 1796 rằng: “Trước kia hễ có nhật thực nguyệt thực thì cứ đợi gần đến ngày mới báo lên, bây giờ đã có lịch nhà Thanh đem sang rồi, chẳng phải là ăn cắp cái giỏi của người để làm của mình ư? Sao gọi là thực học được? Từ nay về sau như có nhật thực nguyệt thực ở ngày tháng năm nào, mới khuyết, khuyết nhiều, lại tròn vào giờ nào, phải suy tính độ số trước, vào khoảng thượng tuần tháng 10 năm trước, mỗi người làm một bản riêng tiến trình, tới kỳ xét nghiệm, tính trúng thì được thưởng, không trúng thì có phạt”.

Để tỏ thế chính thống, từ khi xưng vương năm 1780, chúa Nguyễn Ánh đã tiến hành ban lịch Vạn Toàn cho bề tôi. Lệ ban lịch được quy định thành một nghi lễ chính thức cuối năm từ tháng Chạp năm 1790, cùng với lễ Phong bảo (niêm phong ấn tín để nghỉ Tết). Lễ ban lịch lúc đầu được tiến hành vào sáng ngày 28 tháng Chạp, đầu tiên là dâng lịch vào Thái miếu để báo cáo các vị tiên vương, sau đó là dâng lịch vào Nội.

Đến đầu giờ Thìn (7 giờ sáng), chúa ngự ở gác Triêu Dương, quan Bộ Hộ đến trước, quỳ tâu rằng: “Năm mới ban lịch, chúc mừng chúa thượng muôn tuổi” rồi lễ 4 lạy, vái, đứng dậy, trở ra. Chúa phụng chỉ truyền ban lịch. Hộ Bộ truyền cho thuyền kiệu Thủy quân bưng 2 tráp lịch đặt ở trên án gian chính giữa. Quan Bộ Hộ quỳ tâu rằng: “Phụng chỉ ban lịch năm mới cho các văn võ thần liêu”, lại lễ 4 lạy, vái, xong đứng dậy trở ra. Các công tử con chúa và các quan văn võ đến trước lễ 4 lạy. Lễ xong, chúa ngự vào Nội, các quan đều lui ra. Sau khi Vua Gia Long lên ngôi năm 1802, lễ ban lịch được ấn định vào ngày 25 tháng Chạp.

Năm Gia Long thứ 9 (1810), Nguyễn Hữu Thận từ Trung Quốc trở về, dâng lên vua một quyển “Đại lịch tượng khảo” thành thơ và tâu rằng: "Lịch Vạn Toàn nước ta và sách Đại Thanh thời hiến bên Tàu, đều theo lịch đại thống nhà Minh, hơn 300 năm chưa hề sửa lại, càng lâu lại càng sai lắm. Đời Khang Hy nước Tàu, mới tham dùng phép lịch Thái Tây, làm ra quyển lịch này, mà sách này tuy xét sổ tinh tường hơn sách Đại thống, phép tam tuyến bát giác lại tinh xảo lắm. Xin giao học trò Khâm thiên theo lịch này để khảo cứu làm phép lịch, thời biết đúng độ số trời mà nhằm tiết hậu". Nhà vua cho là phải.

Đến năm Gia Long thứ 11 (1812), Nguyễn Hữu Thận lúc đó giữ chức Tham tri Bộ Hộ được bổ nhiệm kiêm quản việc tòa Khâm thiên giám. “Đại Nam thực lục” ghi rằng: “Thận tinh thiên văn và lịch học; lúc sang sứ Tàu, học được phép làm lịch lại càng thêm tinh. Ngài thường bàn thiên văn với Thận, khen lắm”. Năm này, Vua Gia Long cũng cho đổi tên lịch Vạn Toàn lại đổi tên thành lịch Hiệp Kỷ.

Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), triều Nguyễn làm lịch Thất Chánh. Sử viết: “Khi ấy tòa Khâm Thiên tra cứu phép làm lịch và thiên văn, suy xét Nhật, Nguyệt, Tinh thần, ngày sóc, độ số và sao Ngũ hành ẩn hiện, làm thành lịch này. Vua khen, truyền cho in phát”.

Đến thời Vua Tự Đức, triều đình còn phổ biến nhiều loại sách khoa học về khí tượng của phương Tây. Năm 1879, Vua Tự Đức sai Khâm thiên giám phải dự tính lịch năm sau, như nhuận về tháng nào thì trong tháng 6, tháng 7 năm nay phải xét trước tâu lên, rồi chuẩn cho thông lục khắp trong ngoài, để dân biết mà làm ăn. Nhà vua lại nghĩ các sách Tây như: sách “Bác vật tân biên” nói thiên văn địa khí có quan hệ với phép làm lịch; cùng các sách “Vạn quốc công pháp”, “Hàng hải kim châm”, “Khai môi yếu pháp” đều là học thiết thời vụ, nên sai quan tỉnh Hải Dương in cho nhiều mà bán, để quan, lại và học trò học tập cho biết mà dùng.

Lê Tiên Long
.
.
.