Người Mỹ và tín ngưỡng

Thứ Bảy, 04/04/2009, 15:51
Theo nhà nghiên cứu Pitzer College, những con số thống kê vào năm 2005 cho thấy, nếu không kể Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên, trong số các quốc gia có tỉ lệ các công dân vô thần (không theo tôn giáo nào) cao nhất trên thế giới là Thụy Điển (ít nhất là 45%, cao nhất là 85%), Na Uy (từ 31 tới 72%), Nhật Bản (từ 64 tới 65%), Czech (từ 54 tới 61%), Phần Lan (từ 28 tới 60%), Pháp (từ 43 tới 54%), Hàn Quốc (từ 30 tới 52%)… thì tại Mỹ, tỉ lệ những người vô thần chỉ ở mức từ 3 tới 8% dân số.

Tuy nhiên, tình hình tín ngưỡng và các mối quan hệ tôn giáo ở đây hoàn toàn  không đơn giản.

Bức tranh đa sắc

Có hơn 40% số người Mỹ thường xuyên (tức là ít nhất một lần trong một tuần) tới dự lễ ở nhà thờ, nhà chùa hay các đền thờ khác. Chỉ có khoảng 15% số người Mỹ không bao giờ đặt chân vào các công trình tôn giáo.

Thông thường ở Mỹ, những người đứng tuổi quan tâm tới tôn giáo hơn là lớp trẻ và phụ nữ chăm đi lễ hơn nam giới. Người ít học sùng đạo hơn những người có học vị cao. Mức độ sùng đạo giảm theo sự gia tăng về thu nhập vật chất.

Theo truyền thống, những khu vực mộ đạo nhất là các bang miền Nam và bang Utah, còn nơi "kém" sùng đạo nhất là những bang nằm ở vùng Đông Bắc (khu vực vẫn được gọi là New England) cộng với các bang nằm ở bờ Tây như California, Oregon và Washington.

Ảnh hưởng tới tinh thần mộ đạo của người Mỹ có cả yếu tố sắc tộc: Những người da đen tới nhà thờ thường xuyên hơn những người da trắng, còn người da trắng tới nhà thờ thường xuyên hơn người gốc châu Á. Chỉ có 44% số công dân Mỹ gốc châu Á cho rằng mình có tín ngưỡng, trong khi có tới 83% số người da đen cho rằng tôn giáo là một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của họ.

Tôn giáo cụ thể cũng ảnh hưởng tới sự sùng đạo của người Mỹ: Tích cực nhất trong hành lễ là các tín đồ Mặc Môn và Công giáo; những tín đồ thuộc các dòng đạo truyền thống (nhưng không phải là Công giáo), thí dụ như đạo Chính thống chẳng hạn…

Lý do khiến các công dân Mỹ tham dự các buổi lễ tôn giáo cũng rất khác nhau. Một cuộc thăm dò xã hội do Viện Gallup tiến hành cho thấy, 23% số người có tín ngưỡng ở Mỹ dự các buổi hành lễ là để duy trì sự phát triển đức tin và nhận lấy những chỉ đạo về tôn giáo. 

20% tuyên bố rằng, các buổi lễ tôn giáo giúp họ cảm thấy phấn chấn hơn về mặt tinh thần. 15% cho rằng việc làm đó là một phần không thể tách rời của tín ngưỡng. 13% tham gia hành lễ để có cơ hội giao tiếp với những người đồng đạo…

Cũng theo một cuộc thăm dò xã hội, cứ 10 người Mỹ thì có khoảng 6 người (57%) cho rằng, tôn giáo là một phần quan trọng trong cuộc sống hàng ngày. 26% cho rằng, tín ngưỡng cũng quan trọng nhưng không quá quan trọng. Còn đối với 16% số dân Mỹ, tín ngưỡng không có ý nghĩa gì quan trọng. Các công trình nghiên cứu được tiến hành trong suốt một thời gian dài cho thấy, mức độ tín ngưỡng của người như hiện nay đã được duy trì từ những năm 60 của thế kỷ trước.

Trước đó, người Mỹ có vẻ sùng đạo cao hơn. Tuy nhiên, bước vào đầu năm 2009 này, dường như đang xuất hiện những dấu hiệu cho thấy, sự sùng đạo của người Mỹ đang bắt đầu suy giảm.

Tỉ lệ các tín đồ Công giáo ở Mỹ dao động từ 78% (theo số liệu của American Religious Identification Survey) tới 84% (số liệu của The Pew Forum on Religion & Public Life). Số liệu về tín đồ của các tôn giáo khác cũng không đồng nhất như thế. Có khoảng từ 11 tới 13%  số người Mỹ tự cho mình thuộc lớp người tin là có Đấng tối cao nhưng không theo bất cứ một tôn giáo cụ thể nào.

Không có con số chuẩn xác về số lượng các tôn giáo và tín ngưỡng được người Mỹ theo. Thông thường, các chuyên gia hay đưa ra con số gần 3.000. Số lượng các công trình tôn giáo ở Mỹ cũng không được thống kê chuẩn xác - ước lượng chúng ở mức hơn 250 nghìn.

Việc gì đi việc nấy

Mặc dù tôn giáo có vai trò quan trọng trong đời sống người Mỹ nhưng ở quốc gia này, chuyện đời và chuyện đạo được phân chia tương đối rành rẽ. Trong thời đầu lập quốc, các nhà lãnh đạo Mỹ đã nhìn thấy trong Công giáo một sức mạnh có thể liên kết lại các cá nhân rất khác nhau ở đây thành một dân tộc.

Thế nhưng, hiện nay, mối quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo đang là một trong những vấn đề gây chia rẽ mạnh nhất trong nhân dân Mỹ. Hàng chục triệu người Mỹ cho rằng, trên nền tảng của các quyết sách chính trị phải là các giá trị đạo đức có cơ sở tín ngưỡng. Hàng chục triệu người khác lại cho rằng, tín ngưỡng là chuyện riêng tư và không công nhận đằng sau tôn giáo bất kỳ một vai trò chính trị nào trong xã hội dân chủ hiện đại.

Chính mâu thuẫn tư tưởng này cho tới ngày hôm nay vẫn đang hiện hữu trong những cuộc tranh luận về việc cho phép hay không cho phép việc nạo thai hay các cuộc kết hôn đồng giới, hay các thí nghiệm liên quan tới bào thai, hoặc việc cho phép hay không  cho phép giảng dạy thuyết tiến hóa trong các trường học, hay việc trưng bày các biểu tượng tôn giáo tại công sở, hoặc việc tài trợ cho các trường tư mang khuynh hướng tôn giáo cũng như vô số những vấn đề nóng bỏng khác. Các cuộc tranh luận này luôn rất căng thẳng và các bên đối nghịch thường không bao giờ muốn tìm ra những giải pháp thỏa hiệp.

Liệu xã hội Mỹ có thể vượt qua được những bất đồng như thế và tạo dựng được nền móng chung để tìm cách giải quyết các mâu thuẫn đau đớn và gay cấn này không? Vấn đề đó đã được xem xét trong cuốn sách mới của nhà nghiên cứu Noah Feldman, GS luật của Trường Đại học Tổng hợp New York "Những người bị Đấng tối cao chia rẽ: Vấn đề quan hệ giữa xã hội Mỹ với Nhà thờ" (Divided by God: America's Church-State Problem and What We Should Do About It).

Cơ sở cho những sự dàn xếp pháp lý đối với các quan hệ giữa chính quyền nhà nước với các cơ chế tín ngưỡng là Điều tu chính số 1 (First Amendment) đối với Hiến pháp Hoa Kỳ. Điều tu chính này cùng với 9 điều tu chính khác đã bắt đầu có hiệu lực vào năm 1791. Tổng thể 10 điều tu chính này được gọi là Luật Dự thảo về các quyền (Bill of Rights).

Điều tu chính số 1 có nội dung như sau: "Quốc hội không được đưa ra những quy định mang tính pháp luật liên quan tới việc xác nhận một tôn giáo nào hay cấm đoán việc tự do tin theo tôn giáo đó, hạn chế tự do ngôn luận hay in ấn, hay quyền của nhân dân tập hợp lại với nhau và thỉnh cầu chính phủ về sửa đổi những việc lạm quyền".

Các tác giả của Hiến pháp Mỹ thực sự đã tin rằng, chính quyền liên bang quả thực là có thể trong thực tế hạn chế được mình trong lĩnh vực tôn giáo. Theo nhà nghiên cứu Feldman, sự tin tưởng đó có phần ngây thơ nhưng ở giai đoạn lịch sử đó ít ai ý thức được điều này.

Trong bất luận trường hợp nào, bản thân vị Tổng thống Mỹ thứ ba Thomas Jefferson đã rất chân thành khi trong bức thư nổi tiếng gửi các giáo dân phái tẩy lễ ở thành phố Dabury đã tuyên bố rằng: "Hiến pháp đã dịch chuyển bức tường ngăn cách nhà thờ và nhà nước".

Trong thế kỷ XIX, vấn đề gây "đụng độ" giữa các giáo lý và các cơ quan nhà nước chủ yếu chỉ thể hiện trong các tranh luận về cho phép hay không cho phép việc giảng dạy tôn giáo ở các trường công lập, được cung cấp tài chính từ nguồn thuế địa phương. Các vấn đề này đặc biệt trở nên gay cấn trước cuộc bầu cử năm 1876.

Tổng thống Mỹ lúc đó là ông Ulisses Grant, thuộc đảng Cộng hòa, đang nghĩ tới chuyện ứng cử thêm nhiệm kỳ thứ ba, bất chấp việc những năm ông ta cầm quyền trong Nhà Trắng song hành với vô số những vụ tai tiếng. Để tìm kiếm những khẩu hiệu cho chiến dịch tranh cử mới, có thể khích lệ được lực lượng cấp tiến của mình trong đảng Cộng hòa, Grant yêu cầu loại bỏ tất cả những môn liên quan tới tôn giáo trong chương trình dạy học phổ thông.

Trong bài diễn văn gây chấn động lớn ngày 30/9/1875, ông Grant đã nhấn mạnh rằng: "Cần phải để các vấn đề tôn giáo cho gia đình, nhà thờ và các trường tư" và "vĩnh viễn duy trì sự phân tách giữa nhà nước và nhà thờ".

Vị thủ lĩnh lúc đó của đảng Cộng hòa trong Hạ viện James Blaine còn quyết liệt hơn và đề nghị thông qua một điều tu chính mới cấm việc sử dụng những khoản tiền thu được nhờ thuế vào việc hỗ trợ cho các trường học  nằm dưới quyền quản lý của bất cứ một tôn giáo hay giáo phái nào.

Tuy nhiên, đề nghị của ông Blaine đã không được Quốc hội Mỹ chấp thuận, mặc dù quan điểm của ông nhận được sự đồng tình trong cả nước. Tới năm 1890 ở 29 bang đã thông qua các đạo luật hoặc các điều tu chính cấm tài trợ tài chính cho các học đường tôn giáo bằng tiền thu thuế…

Lục Quốc Bình
.
.
.