Hành lang Hà Tây và những cuộc chiến với quân Hung Nô
Qua cầu Trung Sơn, vượt sông Hoàng Hà cuộn sóng, trực chỉ đi ra vùng hoang mạc, đó là địa phận của hành lang Hà Tây danh tiếng. Hành lang Hà Tây là một dải đất dài hơn 1.200km, rộng chừng 100km giống như một đại lộ mênh mông gió cát nối liền nội địa Trung Quốc với phía Tây Vực chạy giữa dãy núi Kỳ Liên quanh năm tuyết phủ cao hơn 4.000-5.000m và sa mạc Tengger, sa mạc Badain Jaran.
Dọc đường đi không thấy một bóng người, chỉ sỏi đá và sỏi đá, chỉ gió bụi và gió bụi miên man. Trên chuyến xe dặm trường ấy chỉ lèo tèo vài ba người cho đến khi rời xa Lan Châu chưa đến 100km, tôi là người khách duy nhất còn lại trên chiếc xe trống rỗng cùng 3 nhân viên Công ty Xe khách Lan Châu. Tôi không ngờ, có ngày mình lại được đi trên vùng đất của người Hung Nô khét tiếng đến cả Tần Thủy Hoàng còn e ngại vì lòng quả cảm và dày dạn trận mạc của bộ tộc này.
Miền đất bao la này vốn thời Tây Hán là của người Hung Nô. Tại đây, Trương Khiên đã hai lần bị quân Hung Nô bắt giam cả thảy là 11 năm. Bị đày ải giam cầm, bị ràng buộc bởi tình phu thê nhưng dải đất Hà Tây và người Hung Nô vẫn không cản bước chân ông đi về phía Tây Vực. Nếu ngày ấy Trương Khiên chùn bước, có lẽ lịch sử con đường tơ lụa ngàn năm trước và bước chân tôi bây giờ đã rẽ sang một hướng khác. Trước khi Trương Khiên xuất chinh đi Tây Vực lần thứ hai thành công vào năm 119, vào năm 121, tướng Tây Hán là Hoắc Khứ Bệnh đã hai lần dẫn quân chinh phạt người Hung Nô ở hành lang Hà Tây, quân Hung Nô trốn chạy nên đường đi qua hành lang Hà Tây mới không bị ngăn cản.
Người con riêng của người chị Vệ hoàng hậu, năm lên 18 tuổi đã đi theo phò Hán Vũ Đế. Năm hai mươi tuổi đã hai lần vượt qua núi Yên Chi và dãy Kỳ Liên bắt hơn 4 vạn người Hung Nô làm khiếp đảm toàn vùng Hà Tây để từ đó một cõi giang san từ Lan Châu cho đến Tân Cương không còn bóng quân Hung Nô. Chiến thắng của Hoắc Khứ Bệnh đã giúp giang san nhà Hán mở rộng, lập ra các huyện Vũ Uy, Tửu Tuyền, Đôn Hoàng, Trương Dịch. Cũng từ đó, con đường tơ lụa ngày càng phát triển qua đến miền Tây Vực, Trung Á và Âu châu.
Tài năng trẻ tuổi, mở đất khai quốc nhưng Hoắc Khứ Bệnh là một người quá đỗi hà khắc với quân lính như Tư Mã Thiên bình luận, rằng còn trẻ mà đã làm đến chức thị trung là rất quý hiển. Khi làm tướng cầm quân lại không tiếc mạng binh sỹ, có lần trên đường tòng quân, vua sai thái quan cung cấp binh lương hàng chục xe, đánh thắng trở về, xe lương chở nặng dư hàng đống nhưng binh sỹ thì bị đói! Suốt một đời ngắn ngủi, Hoắc Khứ Bệnh chỉ sống với chí tôi trung, lấy việc quốc gia làm trọng mà xem thường phù danh nên dù vua ban phủ đệ nhưng Hoắc từ chối, rằng "Hung Nô chưa bị diệt, thần chưa nghĩ đến chuyện gia thất an cư!".
Hoắc Khứ Bệnh mất lúc mới 24 tuổi. Thương tiếc và cảm phục người tướng trẻ anh hùng, Hán Vũ Đế đã cho làm mộ ông giống như núi Kỳ Liên, nơi mà ông đã gặt hái những chiến công hiển hách trên vùng hành lang Hà Tây. Dựng mộ Hoắc Khứ Bệnh theo hình thù núi Kỳ Liên, quả là một sự biểu hiện lòng thương tiếc và cảm phục vô hạn của nhà vua với vị tướng trẻ. Dãy Kỳ Liên nhấp nhô muôn hình thù trước mắt tôi như con rồng ẩn hiện trong mây gió. Ngày xưa những kẻ giang hồ đi lại trên đường tơ lụa, có chết cũng quay đầu về núi Kỳ Liên mà an giấc ngàn thu. Dãy núi Kỳ Liên là một kỳ quan thiên nhiên trên tuyến đường tơ lụa, kéo dài từ Đông sang Tây 800km với hơn 3.000 sông băng. Khối băng vĩnh hằng rộng hơn 2.000km2 ấy là nguồn dinh dưỡng nuôi nấng người Hung Nô và người Hán từ bao đời nay bởi từ những dòng sông băng, Kỳ Liên cung cấp cho hành lang Hà Tây hơn 1.500 tỷ m3 nước nuôi dưỡng những đồng cỏ rộng lớn quanh chân núi làm chỗ chăn nuôi hàng triệu con ngựa cho các vương triều Trung Quốc.
Cũng từ dãy núi Kỳ Liên, gần 700 năm sau ngày Hoắc Khứ Bệnh mất, một trong những vị vua phong lưu nhất lịch sử Trung Quốc là Tùy Dạng Đế, vào năm Đại Nghiệp thứ V (609) đã mở cuộc tuần du Tây Vực. Cả đoàn vua quan Tùy Dạng Đế khi đi qua dãy Kỳ Liên, "đường núi chật hẹp hiểm trở, nối đuôi nhau mà đi, gió tuyết mờ mờ, các quan tùy tùng thất lạc, sỹ tốt chết cóng quá nửa!". Cuộc tuần du của Tùy Dạng Đế tuy gian nan nhưng rất thành công vì chính ông đã mở ra một trang sử mới trong quan hệ ngoại giao với xứ Tây Vực, nhất là về quan hệ giao dịch thương mại mà sự kiện nổi bật nhất là việc nhà vua cho mở hội chợ giao lưu kinh tế ở Lạc Dương cho các thương nhân Trung Quốc và Tây Vực trao đổi hàng hóa. Hình thức hội chợ vào thế kỷ thứ VII của Tùy Dạng Đế đã tạo nên một phương thức giao lưu thương mại và văn hóa đặc sắc được tồn tại và phát triển cho đến ngày hôm nay.
Để mang lại những giây phút thanh bình cho sa mạc sỏi đá chứa đầy gió cát này, lịch sử phải đẫm máu bao nhiêu trang! Bất giác tôi cảm hoài, nhìn những ngôi mộ cát ven đường mà chợt nhớ, rằng dưới chân mình không biết bao thi hài người Đê Khương, Nguyệt Thị, Ô Tôn, Hung Nô, người Hán từ cổ chí kim đã tiêu tan giữa chốn sa trường, đó là chưa kể những lữ khách bỏ mạng cùng với những chuyến hàng hóa gian nan dọc đường tơ lụa. Giữa sa mạc cuồn cuộn gió dù có bê tông cốt sắt cũng tiêu tan, người ta lại không đắp mà chỉ dùng sỏi đen rải thành một hình tam giác từ đáy lên đỉnh mộ như một cách thức bùa yểm tránh lam sơn chướng khí cho người đã chết!--PageBreak--
Mênh mông sa mạc bao trùm. Những ngôi mộ màu xám đất càng làm cho sa mạc thêm cô đơn, một sự cô đơn thăm thẳm từ mặt đất thấm lên đến tận trời xanh.
- Mộ của ai? - Tôi lấy làm lạ không hiểu những nấm mồ ấy từ đâu mà có giữa sa mạc bèn băn khoăn hỏi người lái xe.
- Thiên hạ!
Thật là ngắn ngủi nhưng cũng thật là đầy đủ, hai chữ "thiên hạ" của người lái xe nhắc nhớ cho tôi hay rằng, trong cái cõi mênh mông này khó tìm ra một chủ thể cụ thể mà tùy theo cảm thức của từng người để thấu đáo những gì mình tìm kiếm.
Giống như các thương nhân ngày xưa, chuyến xe đưa tôi đến nghỉ trưa tại huyện Vũ Uy, trạm dừng chân đầu tiên ở hành lang Hà Tây. Cao tăng Huyền Trang cũng đã dừng chân ở Vũ Uy hơn 1 tháng để đăng đàn giảng kinh làm cho các thương nhân, tăng lữ các nước kính phục. Ngoài việc cung cấp lộ phí, chính các thương nhân tăng lữ đã mang danh tiếng của Huyền Trang truyền khắp xứ Tây Vực, vì vậy sau này khi Huyền Trang đi đến đâu đều được nghênh đãi rất trọng thị.
Sau nhiều ngày nồng nực mùi hồi, lần đầu tiên tôi được thấy những hạt cơm trắng nơi chốn sa mạc. Trong một quán cơm cáu bẩn, tôi đã ăn như một con ngựa đói cỏ xanh để chuẩn bị vượt qua sa mạc Gôbi.
Sa mạc Gôbi ròng rã màu đá cát đen xám nằm im lìm dưới gió mưa như một đại dương chết khô sỏi đá. Bầu trời cũng tuyền xám bụi với những trận bão cát bất thình lình bùng lên giữa không gian rồi thi thoảng mưa lại nhạt nhòa rơi xuống vài hạt quắt queo. Mưa như linh hồn sa mạc bám lép nhép trên khung cửa, chưa kịp mát lạnh trong mắt tôi đã vội vàng bốc hơi vào chốn hư vô. Có những lúc xe đi vào trung tâm những cơn lốc bụi, có cảm giác như trời đang sầm sập đổ đêm xuống giữa ban ngày, và nếu không có những âu thuyền chắn cát thì mưa và gió bụi này sẽ chẳng mấy chốc mà khỏa lấp con đường tôi đang đi.
Đến gần núi Ân, trong mịt mờ gió bụi trường chinh ấy, người lái xe chợt chỉ tay về phía trước reo lên với tôi:
- Trường thành! Trường Thành cổ đại đấy! Anh chụp ảnh đi!
Tôi nhoài mình ra cửa xe. Gió lạnh rát mặt. Bụi cát quất nát từng hạt tế bào. Tôi vẫn gượng cầm máy. Trước mắt tôi là những mô đất mồ côi, những đoạn tường thành lúc rời rạc lúc nối nhau như con rồng đất ẩn hiện trên sa mạc. Trường Thành! Vạn Lý Trường Thành thuở ban sơ! Năm 221 trước C ông nguyên, Tần Thủy Hoàng sai Mông Điềm thống lĩnh 30 vạn binh sỹ phản kích quân Hung Nô, thu lại phần đất Nam Hoàng Hà cho xây nối tiếp những đoạn thành vốn được các nước Yên, Triệu xây dựng trong thời Chiến Quốc làm thành một hệ thống tường thành dài hơn 6.700km đi qua 6 tỉnh miền Tây và Bắc Trung Quốc.
Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Mông Điềm, công trình phải tiến hành trong 10 năm mới tạm hoàn thành. Trong cái giá lạnh của miền Tây mà tôi đang nếm trải, hàng ngàn năm trước bao vạn dân phu dầm dề ăn đói mặc rét, vùi xác dưới chân tường thành mà dựng lên hệ thống phòng thủ vĩ đại bậc nhất thiên hạ này.
Trên sa mạc Gôbi hoang lạnh, tôi nhớ nàng Mạnh Khương, vợ nho sinh Phạm Kỷ Lương. Không biết nơi nào tôi đang đi qua, không biết hạt cát nào dưới chân tôi đã in dấu chân của nàng Mạnh Khương lặn lội qua vạn dặm đường mưa tuyết mang áo lạnh cho người chồng bị bắt làm dân phu đắp thành. Buồn thương cho Mạnh Khương, khi nàng đến nơi thì Phạm Kỷ Lương vì không chịu nổi cực nhọc đã qua đời. Mạnh Khương, tay ôm áo lạnh bơ vơ, gục xuống chân tường thành mà khóc chồng. Đoạn tường thành nơi Mạnh Khương khóc đã sụp đổ, còn những đoạn tường thành đổ nát trước mắt tôi có phải vì nước mắt của những người dân phu hay vì bão cát, vì những cuộc chiến chinh máu đổ đầu rơi liên miên từ đời này qua đời nọ mà phải tan tành gió bụi!
Mặc cho gió bụi tơi bời, tôi vẫn yên vị lĩnh hội nét đẹp hoang tàn của những đoạn thành cổ vì tôi biết đây mới là nhân chứng sống của một thời tiền sử xa xưa còn hiếm hoi sót lại trên sa mạc Gôbi và toàn cõi Trung Nguyên bởi những khúc trường thành đẹp ở cửa ải Cư Dung trên Bát Đạt Lĩnh gần Bắc Kinh và nhiều nơi khác nữa chủ yếu là của đời Minh sau này trùng tu gia cố nên đã mất đi ít nhiều những giá trị lịch sử nguyên gốc của Vạn Lý Trường Thành.
Truyền thuyết kể rằng, để trấn giữ cho Trường Thành khỏi bị cát bụi sa mạc vùi lấp, người xưa đã bắt nam thanh nữ tú chôn sống, cách vài dặm lại chôn một người dưới chân thành để những linh hồn trinh tiết ấy cùng với lính canh dương gian ngày đêm bảo vệ cho Trường Thành.
Trong thực tế, do cốt tường thành được bện chặn nhiều lớp thân cây thực vật trộn với muối khoáng, đất sét làm nên một thứ nguyên vật liệu rắn chắc, kiên cố đã giúp cho Trường Thành đứng vững trước thời gian.
Trường Thành đi đến đâu, quân Hung Nô lui đến đấy. Tôi nhớ lời anh chủ quán trong đêm Tây An, nếu không có Tần Thủy Hoàng và Vạn Lý Trường Thành, có lẽ quân Hung Nô đã xâm chiếm toàn bộ bờ cõi nước Trung Hoa. Và dĩ nhiên, con đường tơ lụa cũng chẳng có vì với bản tính man rợ của mình, người Hung Nô sẽ không bao giờ cho khách thương đi lại buôn bán trong xứ mình cai quản!
Đi xuyên qua chiều, dọc theo những đoạn trường thành cổ, đến nửa đêm tôi mới đặt chân lên thị trấn Tửu Tuyền. Nhà du hành đến từ xứ Bồ Đào Nha, người Trung Quốc gọi là Caociu đến Tửu Tuyền thế kỷ XVII, từng viết trước khi lâm bệnh chết, rằng thành Túc Châu là nơi tụ tập của các thương nhân phương Tây. Trong thành có hai khu cho người Trung Quốc và người Hồi giáo cư ngụ. Họ đến từ phương Tây, chuyên về nghề buôn bán, phần lớn họ lấy vợ sinh con ở đấy, đời này nối đời khác mà không về quê cũ rồi sau đó nhập quốc tịch ở đây. Hằng đêm, người Hồi về khu Hồi giáo của mình, mọi ứng xử bên ngoài luôn hòa đồng và tuân theo luật lệ, phán quyết của quan sở tại.
Nhưng cũng như Trường Thành trên sa mạc Gôbi, thành cổ Tửu Tuyền hay còn gọi là Túc Châu chỉ còn vài phế tích như thiên thu đứt đoạn làm nao lòng nhân gian
