Du lịch – Đi để trải nghiệm

Thứ Bảy, 24/08/2013, 14:56
Đi để trải nghiệm là nghĩa, là nội hàm của du lịch. Điều đầu tiên, người viết bài này xin được nhấn mạnh rằng: Du lịch là một công việc rất công phu, rất dụng công, và nó đòi hỏi dồn nhiều trí não và sự hiểu biết. Và nữa, nó không hề dễ dàng, nó không thể được thực hiện một cách qua loa, cốt cho có. Người ta gọi công cuộc này là một nền công nghiệp không khói. Vâng, nó là một đặc thù, nhưng hai từ công nghiệp đã hàm súc sự khó khăn, sự dày công và hết sức có trách nhiệm của những người chuyên trách về công việc này.

Chúng ta cũng đã biết du lịch là một loại hình văn hoá; nhưng không hề là thứ văn hoá xoàng xĩnh, phổ thông, trung bình. Mà nó là một loại hình văn hoá rất cao cấp, cao cấp tột đỉnh, người làm công cuộc này cần ở một cấp độ có trình độ văn hoá vừa uyên bác vừa từng trải; phải có những hiểu biết kỹ lưỡng về sử học, về dư địa chí, về khảo cổ, về nhân chủng học, về sinh thái học.

Sự ham hiểu biết, ham được thấy, được nhìn, được ngắm, được suy nghĩ, được sưu tra và sưu tập là những nhu cầu vô cùng thiết yếu của con người. Bởi điều vô cùng đáng sợ, đó là sự nghèo thiếu, sự ít ỏi về tri thức; với hiện trạng này, người ta còn coi nó như một thảm hoạ, nó cũng là một nguyên nhân làm nảy sinh sự phá hoại và tội ác.

Đi nhiều nơi, thật nhiều nơi, để nhìn ngắm thưởng ngoạn phong cảnh, núi non, sông biển, sa mạc chỉ có thế thôi thì không phải là du lịch, không thể gọi là du lịch. Nếu rộng rãi thì nói đó là một trong mười phần của cái gọi là du lịch. Vì cảnh sắc thì nơi nào cũng có, dẫu có đặc sắc và khác biệt cũng không bao nhiêu. Mà quan niệm cốt yếu nhất của du lịch đó là nếu chỉ nói riêng về phong cảnh, thì trong phong cảnh phải có các công trình do con người tạo nên.

Nội hàm của du lịch là vậy. Xin được nói thêm như sau: Người tổ chức du lịch, để đón khách ở bất cứ đâu đến thăm thì  cảnh sắc đó phải được tô điểm bởi công trình tạo lập của con người và cộng đồng người bản địa ở nơi đó; thế rồi cảnh sắc của phong cảnh phải tương giao, tương tác, tương hoà, tương thâm, và tương ấn (ấn tượng, đặc thù). Năm đặc thù này càng sắc sảo càng có giá trị lớn.

Và người ta gọi một cặp từ chính xác là trải nghiệm. Trong trải nghiệm có cảm xúc và lý chí, cái chủ yếu là nhận thức được gì khi đứng trước một công trình, mà tập thể người đã sống cách nay hàng vài nghìn năm đã tạo lập nên. Tri thức và kiến thức bao giờ cũng là dằng dặc với chiều dài hàng nghìn năm; ba, năm, bẩy chục ngàn năm...

Và những người của ngày hôm nay, dẫu người đó có bậc cao về học thức, lại cứ nghĩ ngày nay khoa học hơn vượt bậc ngày xửa ngày xưa. Đến đây, xin được đoan quyết: Không chắc đâu ạ. Bởi có thật là nhiều điều người của hôm nay sau khi nhìn ngắm, đã sưu tra kỹ lưỡng trước những công trình của cách đây vài nghìn năm, trong một cảnh sắc hài hoà với núi non; thì người đầy mình tri thức ngày nay vẫn không thể hiểu được, những người xưa ấy đã làm như thế nào, mà tạo nên được những công trình vĩ đại như vậy.

Minh họa: Lê Phương.
Thưa vâng, tất thảy những gì được mạo muội nói ra ở mấy dòng trên đây, nó có được rất gọn gàng hai từ, đó là trải nghiệm. Và cuộc đi của đoàn người đang trải nghiệm này đã trao đổi kỹ với nhau, và cùng một quyết định rằng, sẽ phải lại đến đây vài lần nữa, thì may ra mới tìm thấy thật sự có những câu trả lời cho rất nhiều những “vì sao?”, những “tại sao?”.

Vâng, như vậy là phía các vị tổ chức cuộc du lịch của nơi ấy đã thành công trong hệ tác nghiệp của du lịch. Trên đây là những công trình vật thể. Còn vô vàn những công trình phi vật thể do con người tạo ra, tập quần những con người, những cộng đồng người tạo ra, mới thật là đáng nói: Đó là những phong tục, những tập quán, trong đó có vô vàn các thể loại lễ hội của rất nhiều địa phương, của rất nhiều dân tộc.

Và để đạt được những điều trên đây thì phía những chủ thể tổ chức các cuộc du lịch, cần có sự giải thích, thuyết minh cho sinh động và kỹ lưỡng, thấu đáo. Thực hiện được điều trên đây, sẽ đem lại vô vàn sự thú vị mà ngay trước chuyến hành trình của họ, họ không thể nào biết đến, tưởng tượng được.

Trong các công trình con người tạo nên để đãi đoàn du lịch còn có vô vàn các món ăn. Nó là một thứ ngôn ngữ đặc sắc biểu thị cô đọng nhất về bản chất của một tộc người nào đấy. Và để cho người trong hành trình du lịch có được sự trải nghiệm đầy đủ nhất thì phía người tổ chức cũng hết sức cần có một hệ thống giảng giải cho cận kẽ, và tốt nhất là hệ thống giải thích thông minh này trở thành những cuốn sách.

Khởi thuỷ của hành trình để trải nghiệm - du lịch này đã có tại miền Lưỡng Hà Ả rập, đó là vùng bình nguyên rộng lớn giữa hai con sông Tigơrơ và Ơphơrát. Người ta đồn rằng tại vùng bình nguyên này thời thượng cổ là Vườn Êđen, nơi xuất xứ và sinh sống của ông bà A Đam và Êva rồi sau đó là tộc người con và cháu. Tại đấy, trước công nguyên vài trăm năm có thành phố tên là Babylon, do vua Nêbucátnếtsa trị vì gần 50 năm. Nêbucátnếtsa đã xây nên vườn treo Babylon - một trong bảy kỳ quan của thế giới.

Và toàn bộ hệ thống tường thành, công cuộc xây dựng này là công sức của hàng chục triệu phu tù là người các dân tộc khác đã đầu hàng trong rất nhiều cuộc xâm lược của vua Nêbucátnếtsa. Hệ thống thành bao quanh Babylon có diện tích là 340km2, với tường thành dày 25m, cao 100m, đào sâu xuống đất 20m (để ngăn không cho kẻ thù đào hầm dưới chân thành).

Bên trong là vô vàn các cung điện, phố xá và các toà nhà nguy nga. Các đường phố được giao nhau qua các cổng đúc bằng đồng. Vua Nêbucátnếtsa dựng một vườn treo hình vuông, mỗi bề dài 120m, cao 24m, mặt bằng vườn treo này được trồng rất nhiều giống cây quý giá, toả hương thơm. Và có các phòng bơm nước lấy từ hồ lớn có chu vi 220km, sâu 54m. Hồ này lấy nước từ sông Ơphơrát.

Vua Nêbucátnếtsa lệnh cho các quần thần, hàng nghìn người toả đi bốn phương tám hướng mà kêu gọi đốc thúc người người hãy du lịch tới đây để mà nhìn ngắm, mà trải nghiệm về sự vĩ đại hùng cường duy nhất trước toàn miền Lưỡng Hà và Ả rập, từ xưa gọi là Êlíptô của thời bấy giờ. Vậy là, nhà vua Nêbucátnếtsa là người đầu tiên trong nhân loại đã nói rất rõ ràng và nhắc đi nhắc lại nhiều lần hai từ du lịch và tự nhà vua cũng trực tiếp trị vì toàn bộ các sản phẩm của du lịch, của sự đi để trải nghiệm.

Tại Ai Cập, người ta cũng chọn một kim tự tháp đẹp nhất, và họ bán vé cho khách du lịch vào bên trong các phòng lớn tham dự những buổi thiết triều của một vị Pharaông nào đó. Cuộc thiết triều này kéo dài sáu ngày, do các công ty du lịch của Ai Cập tổ chức hết sức công phu vì họ đã dựng lại hoàn toàn chính xác, với những cuộc thiết triều có thật của các Pharaông sống cách nay hàng nghìn năm.

Nước Việt Nam của chúng ta là một nước có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán đẹp, đầy lý thú. Để phục vụ cho du lịch - đi để trải nghiệm, có lẽ cần làm sống lại, phục chế lại thật sát với nguyên gốc những lễ hội, phong tục tập quán, của bất cứ dân tộc nào, để cho khách du lịch nhập cuộc Mỗi dân tộc, đều có riêng một kiểu tổ chức đám cưới, đám hiếu, và dứt khoát những đám cưới, đám hiếu này của mỗi dân tộc là không giống nhau.

Thí dụ: các dân tộc Thái, Dao, Mán, Tày, Nùng. Tổ chức đám cưới đều khác biệt dân tộc kia. Dựng lại được, rồi mỗi đoàn khách du lịch trực tiếp tham dự, hẳn sẽ không thể không lý thú và vui vẻ. Xin có một thí dụ nữa, chúng ta tổ chức cho khách du lịch thăm Tây Nguyên, nơi từ bao đời nay toạ lạc các dân tộc Êđê, Gia Rai, M’Nông, Stiêng, v.v. Dân tộc Êđê sống theo quan hệ gia đình mẫu hệ.

Người đàn bà quán xuyến và làm chủ gia đình. Mọi việc trong một gia đình ở dưới một nhà sàn dài, mỗi con người có cuộc sống trong một ngăn nhà, khi ăn cơm sáng, trưa và tối thì ngồi cả vào một mâm dài là tấm phản dài đặt trên sàn nhà, và người mẹ - chủ gia đình ngồi bên một nồi cơm to, tự tay bà múc cơm cho từng người vào một bát tô to, và sau đó cũng là bà, múc thức ăn đầy đủ rồi đặt vào tay mỗi người, ấy là chồng, là con trai cả, là các con gái, là con dâu v.v. cực kỳ vui và ấm áp một gia phong trường tồn.

Chúng ta, những lực lượng tổ chức du lịch hành trình đi để trải nghiệm, hoàn toàn có thể tạo cho khách trực tiếp tham dự vào những gia đình mẫu hệ của dân tộc Êđê như thế. Rồi khi người Êđê khuất núi nữa, thủ tục của những đám hiếu này cũng rất lý thú, và rất đáng phải biết. Sau đó người Êđê tạc những bức tượng nhà mồ bằng bất cứ một khúc gỗ nào được lấy trong rừng. Chỉ với một con dao thôi, tay của họ đã tạo nên cả vẻ mặt, dáng dấp khá giống với người đang nằm dưới mộ.

Phong tục tạc tượng nhà mồ này có khá nhiều câu chuyện hấp dẫn và lý thú, nhất là với đoàn người từ phương khác tới đó để dự phần. Hơn nữa, là khi những người tổ chức bỏ công ra dựng lại, phục hiện lại, cả một bản người Êđê đến vài chục nóc nhà, mỗi nóc nhà cũng có hẳn một gia đình theo tập tục mẫu hệ, và tỉ mỉ nữa là cùng với ứng xử của gia cảnh mẫu hệ là sự thưởng thức các món ăn của dân tộc Êđê, mà du khách cũng lại chính là hoà vào như các thành viên trong gia phong mẫu hệ đó.

Lại xin có một thí dụ khác, tại miền Tây Nam Bộ bên những cánh rừng được trùng điệp, kênh rạch miên man, đã hiện ra một làng quê, trong làng là nhà, nhỏ thôi, hai gian vách lá dừa, mái lá dừa, ngồi trong nhà ngó ra là mênh mang kênh rạch và chim từng đàn. Mỗi nhà tuỳ theo trú ngụ vài ba khách với người phục vụ của tổ chức du lịch.

Khách, đàn ông, đàn bà, trai trẻ thích mò ốc, thích bắt cá, thích đi câu, thích ngồi bờ kênh câu, hay ngồi thuyền thả câu, thích quăng vó, chụp nơm, đều được hướng dẫn rất chu đáo, gần gụi. Đêm đêm thì ngủ võng hoặc giường bằng gỗ chàm. Khách trú được bao lâu, tuỳ ý, một tuần, mươi ngày.

Tạo nên một cách sống dân dã thực sự với khách, xin chắc chắn là không thể không hấp dẫn. Người ở những xứ sở bấy lâu có cuộc sống trong bê tông, ngoài bê tông và khói xe, tít mù các loại tốc độ, ầm ào các cung bậc âm thanh, sự đông đúc đến nghẹt thở và rối mắt; dứt khoát sự sống dân dã thơ thới giữa cảnh trí của miền Tây Nam Bộ, hẳn là hết sức quý với họ.

Nên chăng, chúng ta dành tạo nên các loại làng, loại bản trong đó quần tụ đủ mọi kiểu nhà nguyên sơ tranh, tre, nứa, lá và chỉ một tầng, với mỗi nhà bãi đất bốn bên là giếng khơi, là vườn rau và hoa, là lồng chim chào mào, khiếu, yểng, vẹt, chích choè v.v. Những làng như vậy lại gần bờ biển, gần cửa sông; giá cả cư trú thì phải chăng và nhất là trong các nhà như vậy các đồ dùng và dụng cụ để phục vụ cho mọi sở thích của khách. Chứ không thể cứ đơn điệu khách sạn năm sao, bốn sao, và giá cả tá túc thì đắt vàng mắt.

Có một thực thể nữa rất lớn và rất rộng ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam, và vô cùng cần thiết, nếu như các tổ chức đảm trách du lịch biết đến, và bỏ nhiều công sức cho nó, thời hẳn sẽ hết sức có lợi ích, đó là hệ thống các làng nghề của nước ta.

Hà Nội có mấy tỉnh hàng xóm, Nam Định, Hà Nam, Vĩnh Phúc , Bắc Ninh. Riêng tỉnh Bắc Ninh còn có một cái tên nữa rất đáng quí là Kinh Bắc. Kinh Bắc với hơn một trăm làng nghề toàn tòng, cùng với hàng trăm làng nghề khác của các tỉnh đồng bắc Bắc Bộ này, đã góp phần sáng láng làm nên nền văn minh Sông Hồng trong suốt hơn hai nghìn năm cho đến ngày hôm nay.

Bây giờ các tổ chức du lịch của chúng ta đầu tư vào làng nghề, bằng việc đưa du lịch tham dự trực tiếp. Thí dụ: đó là những vị khách du lịch nào, muốn trải nghiệm bằng cách hoà hai bàn tay của mình vào với việc chế tác các loại mặt hàng tại các làng nghề, như làng nghề vẽ và in tranh cổ ở Kinh Bắc chẳng hạn, sẽ nhiều sự vui đây

Bùi Bình Thi
.
.
.