Việt Nam xác lập 10 nhóm công nghệ chiến lược
Ngày 6/5, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược.
Danh mục công nghệ chiến lược nhằm tạo cơ sở quan trọng để tập trung nguồn lực phát triển các lĩnh vực công nghệ lõi, công nghệ nền tảng và các sản phẩm có tác động lớn đến tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh và bảo đảm an ninh quốc gia.
Danh mục công nghệ chiến lược gồm 10 nhóm công nghệ trọng điểm, bao quát nhiều lĩnh vực then chốt của nền kinh tế số và công nghiệp tương lai. Trong đó, công nghệ số được xác định là nhóm trung tâm, bao gồm trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, bản sao số, điện toán đám mây, điện toán biên, Internet vạn vật và chuỗi khối. Đây được xem là nền tảng cho quá trình chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế số trong giai đoạn mới.
Bên cạnh đó, Quyết định cũng xác định các lĩnh vực công nghệ chiến lược khác như công nghệ mạng di động thế hệ sau; robot và tự động hóa; công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến; công nghệ chip bán dẫn; công nghệ an ninh mạng và lượng tử; công nghệ biển, đại dương và lòng đất; công nghệ hàng không và vũ trụ; công nghệ đường sắt tốc độ cao và đường sắt đô thị.
Cùng với danh mục công nghệ chiến lược, Chính phủ cũng ban hành Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược với nhiều nhóm sản phẩm cụ thể, được chia thành hai nhóm lớn.
Nhóm thứ nhất là các sản phẩm công nghệ chiến lược đã có thị trường, có khả năng tạo tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế. Nổi bật trong nhóm này có mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, trợ lý ảo và AI chuyên ngành; AI camera xử lý tại biên; nền tảng bản sao số; nền tảng điện toán đám mây; thiết bị và hệ thống mạng di động 5G/5G-Advanced; robot công nghiệp; nền tảng sản xuất thông minh; giải pháp an ninh mạng cho hạ tầng trọng yếu và cơ sở dữ liệu quốc gia.
Danh mục cũng đặc biệt nhấn mạnh các sản phẩm công nghệ sinh học và y sinh như vắc xin thế hệ mới dùng cho người; liệu pháp tế bào; hệ thống sản xuất sản phẩm y tế cá thể hóa ứng dụng công nghệ in 3D; hệ thống cảm biến sinh học thông minh; giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản thế hệ mới tạo ra từ công nghệ tế bào, chỉnh sửa gen và công nghệ sinh học.
Trong lĩnh vực năng lượng và vật liệu mới, các sản phẩm được đưa vào danh mục gồm pin, ắc quy tiên tiến và hệ thống tích trữ năng lượng tích hợp (BESS); hệ thống sản xuất, lưu trữ, vận chuyển và phân phối hydrogen xanh; hệ thống thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon; vật liệu tiên tiến và vật liệu chức năng hiệu năng cao phục vụ công nghiệp chế biến, chế tạo.
Nhóm thứ hai là các sản phẩm công nghệ tạo động lực tăng trưởng mới, công nghệ nền tảng cho tương lai và công nghệ bảo đảm tự chủ trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng. Nhóm này gồm chip chuyên dụng; truyền thông lượng tử, tính toán lượng tử và cảm biến lượng tử; công nghệ khai thác và chế biến sâu khoáng sản, dầu khí và đất hiếm; công nghệ thăm dò lòng đất, biển sâu và năng lượng ngoài khơi; lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ (SMR); vệ tinh và chùm vệ tinh quỹ đạo thấp quan sát Trái đất; nền tảng công nghiệp và hệ thống tích hợp cho đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị.
Theo Quyết định, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát, đánh giá định kỳ để trình Thủ tướng Chính phủ cập nhật Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn.
Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026 và thay thế Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 12/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.

Phát triển công nghệ chiến lược là việc không thể chậm trễ
Làm chủ công nghệ chiến lược và đẩy mạnh thương mại hóa sản phẩm công nghiệp quốc phòng