Những “ông lớn” của ngành công nghệ Việt cam kết gì trong năm 2026?

Thứ Bảy, 03/01/2026, 07:35

Trong chương trình Diễn đàn quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam, nhiều tập đoàn và doanh nghiệp công nghệ lớn đã đưa ra những cam kết cụ thể về việc làm chủ công nghệ lõi và công nghệ chiến lược vào năm 2026. Qua các tham luận có thể thấy, các tập đoàn lớn không còn coi "Make in Vietnam" là một khẩu hiệu truyền thông mà là một tư duy phát triển mới, chuyển từ gia công sang làm chủ thiết kế và công nghệ để đảm bảo an ninh phát triển cho quốc gia.

Công nghệ là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia

Từ ngày đầu tiên của năm 2026, nhìn lại những tháng ngày đã qua không thể phủ nhận rằng, các doanh nghiệp Việt đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc làm chủ công nghệ và chuyển đổi mô hình kinh doanh. Cụ thể, Tập đoàn Viễn thông Viettel đã hình thành được 5 ngành công nghiệp (vũ khí công nghệ cao, hàng không vũ trụ, hạ tầng viễn thông, bán dẫn, an ninh mạng). Tập đoàn làm chủ hơn 270 công nghệ lõi, sở hữu 346 bằng sáng chế và phát triển thành công mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) tiếng Việt với 32 tỷ tham số. Tập đoàn dịch vụ công nghệ thông tin FPT cũng đã chuyển dịch mạnh mẽ từ "làm thuê" sang làm sản phẩm, giảm tỷ lệ gia công từ 90% xuống dưới 30% trong 5 năm. Doanh thu thị trường nước ngoài đạt hơn 35.000 tỷ đồng. FPT cũng đã thành lập các đơn vị chiến lược về chip bán dẫn, AI và đường sắt tốc độ cao.

Tương tự, Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT) cũng đã chuyển đổi thành công từ nhà mạng viễn thông (Telco) sang tập đoàn công nghệ (Techco). VNPT dẫn đầu thị trường băng rộng cố định, tự sản xuất được các thiết bị đầu cuối như ONT, thiết bị Wifi 7 và triển khai nền tảng GenAI tại nhiều địa phương. Đứng trong hàng ngũ "ông lớn", Tập đoàn công nghệ CMC phát triển nền tảng CMC Cloud tương đương các Hyper Scaler quốc tế. Mô hình ngôn ngữ lớn CMC AI của họ được đánh giá đứng số một thế giới về tiếng Việt và tri thức pháp luật Việt Nam khi so sánh với các nền tảng quốc tế. Cuối cùng là Công ty cổ phần Misa đã phát triển thành công các mô hình AI agent chuyên sâu cho kế toán, tài chính và pháp luật, phục vụ hơn 170.000 doanh nghiệp.

Sự chuyển dịch mạnh mẽ từ vai trò gia công sang chủ động đầu tư dài hạn

Dẫu đã nỗ lực để mang lại những kết quả khả quan, song các "ông lớn" công nghệ cũng thừa nhận nỗi lo về nguy cơ bị lệ thuộc vào các tập đoàn đa quốc gia, thậm chí bị coi là một dạng "thực dân kiểu mới" nếu chỉ tập trung vào giá trị gia tăng thấp. Nhiều công nghệ chiến lược quốc gia không thể mua hay chuyển giao mà bắt buộc phải tự nghiên cứu. Một rào cản nữa là áp lực tài chính và quản trị. Cùng với đó, nguy cơ "Make in Vietnam" trở thành khẩu hiệu rỗng nếu sản phẩm chưa thực sự tốt hoặc bị gắn nhãn sai lệch. Xã hội còn khắt khe, chưa chấp nhận thất bại trong đổi mới sáng tạo, gây áp lực lên các doanh nghiệp đi tiên phong…

Tuy nhiên, thực tế đến nay, "Make in Viet Nam" không chỉ là một khẩu hiệu, mà là lựa chọn mang tính sống còn của doanh nghiệp công nghệ Việt trong kỷ nguyên mới. Theo ông Nguyễn Văn Khoa, Tổng giám đốc Tập đoàn FPT, "Make in Viet Nam" là một "ngọn cờ cảm hứng", nhưng đồng thời cũng là câu hỏi được đặt ra liên tục, bền bỉ và đầy thách thức. Trong bối cảnh khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của quốc gia, lãnh đạo FPT cho biết, Tập đoàn đã chủ động thay đổi chiến lược phát triển, không chỉ nhằm tối ưu lợi nhuận, mà hướng tới phụng sự quốc gia. Tổng giám đốc Tập đoàn FPT cũng nêu rõ, thách thức trong việc phát triển các sản phẩm công nghệ lõi - những sản phẩm "không thể sờ thấy, nắn được", không trực tiếp "bay" nhưng lại nằm sâu trong các thiết bị, hạ tầng vận hành. Câu hỏi lớn được ông đặt ra là ai sẽ sẵn sàng thử nghiệm, và Nhà nước có sẵn sàng tạo không gian thử nghiệm cho doanh nghiệp Việt hay không?

Theo ông, yếu tố quan trọng nhất lúc này là tinh thần dấn thân. Do đó, trong năm 2026, FPT công bố các cam kết năm 2026 trong việc triển khai sản phẩm "Make in Viet Nam", tập trung vào trợ lý ảo và mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt với quy mô ứng dụng rộng rãi. Cụ thể, triển khai sản phẩm trợ lý ảo chăm sóc sức khỏe Long Châu, hỗ trợ trả lời và tư vấn cho 10 triệu lượt người dân. Đồng thời, FPT phát triển trợ lý ảo phục vụ khối cơ quan hành chính, triển khai cho trên 100.000 công chức, viên chức trong quá trình xử lý công việc và phục vụ người dân. Cùng với đó,  đơn vị này đặt mục tiêu đưa mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt vào ứng dụng thực tiễn ở quy mô lớn, với tối thiểu 100 tỷ lượt sử dụng, tập trung vào các lĩnh vực then chốt như tài chính - ngân hàng và bán lẻ. Những cam kết này thể hiện cách tiếp cận trong việc phát triển công nghệ lõi không dừng ở nghiên cứu, mà gắn chặt với bài toán ứng dụng thực tế, phục vụ trực tiếp người dân, doanh nghiệp và khu vực công.

Tương tự, Trung tướng Tào Đức Thắng, Chủ tịch Tập đoàn Viettel cũng cam kết sản xuất hơn 5.000 chip chuyên dụng thu phát và làm chủ UAV đa năng tầm xa (bay trên 12 giờ, cự ly 300km). Phía VNPT, ông Tô Dũng Thái - Chủ tịch Tập đoàn cho hay, sẽ phấn đấu làm chủ công nghệ lõi cho các dòng sản phẩm AI tại biên và sản xuất 1.000 máy tính AI (AI Laptop). Ông Nguyễn Trung Chính, Chủ tịch Tập đoàn CMC thì cam kết phát triển nền tảng kinh tế số dùng chung dựa trên AI để quản lý sức khỏe cộng đồng. Tập đoàn Sovico cam kết ứng dụng AI và bản sao số (Digital Twin) để tối ưu hóa vận hành và bảo trì hệ thống đường sắt Metro. Cuối cùng là Công ty cổ phần Misa (chuyên cung cấp các giải pháp phần mềm và dịch vụ chuyển đổi số toàn diện cho doanh nghiệp (tài chính, kế toán, nhân sự, bán hàng), cơ quan nhà nước, trường học và cá nhân, giúp tối ưu hóa vận hành và nâng cao năng suất, cam kết cung cấp nền tảng nhân sự AI cho hơn 30.000 doanh nghiệp.

Nhìn vào thành tựu của các doanh nghiệp, cũng như thấu hiểu những khó khăn, thách thức mà các doanh nghiệp gặp phải, người đứng đầu Bộ KH&CN - Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định, công nghệ không chỉ là công cụ thúc đẩy phát triển kinh tế, mà đã trở thành nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia, chủ quyền số và sức mạnh quốc gia trong kỷ nguyên mới. Việt Nam cần chuyển đổi từ giai đoạn làm chủ công nghệ "Make in Vietnam" sang giai đoạn dẫn dắt "Make in Vietnam to Lead" tại những lĩnh vực có lợi thế, đáp ứng nhu cầu thực tiễn và tạo ra giá trị đột phá.

Giai đoạn này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện, trường và xã hội, cùng với một thể chế linh hoạt hơn, tăng cường thử nghiệm và chấp nhận rủi ro có kiểm soát. "Đặc biệt, Nhà nước sẽ chuyển dịch mạnh mẽ từ vai trò quản lý sang vai trò kiến tạo và đồng hành, thông qua các công cụ như chính sách đặt hàng, mua sắm công, sandbox, tiêu chuẩn và dữ liệu mở", Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh.

Phạm Huyền
.
.
.