Robot dò mìn đầu tiên của Việt Nam

Thứ Năm, 15/02/2007, 09:07

Ngoài chức năng dò tìm bom mìn sót lại sau chiến tranh, robot do Viện Kỹ thuật công binh chế tạo còn có thể phát hiện các chất liệu nổ, kiểm tra vật lạ, cảnh giới, thăm dò, xử lý môi trường trong điều kiện độc hại mà con người không thể đến được...

Thực ra, robot dò mìn trên thế giới đã được chế tạo từ lâu nhưng xét trên đặc tính địa hình, khí hậu của Việt Nam thì không dễ thích nghi. Mặt khác, giá thành của các robot này rất đắt. Trong khi đó, nhu cầu rà phá bom mìn sau chiến tranh ở nước ta còn khá lớn.

Chỉ tính riêng Quảng Trị, “túi bom” trong chiến tranh chống Mỹ,  hiện tại còn tới 2,5 triệu quả và đã có gần 7.000 người của mảnh đất này tử vong hoặc tàn phế bởi bom mìn. Lực lượng công binh rà phá bom mìn trong những năm qua, đã có nhiều đồng chí hy sinh khi làm nhiệm vụ.

Để đảm bảo an toàn cho công việc này cần thiết phải có sự hỗ trợ của một hệ thống hoàn toàn tự động di chuyển các sensor (tiêu cự) qua các khu vực có mìn để phát hiện và thậm chí di chuyển các loại bom mìn. Nhưng nếu sử dụng sản phẩm của nước ngoài thì giá thành rất cao. Vì thế, tập thể cán bộ Trung tâm Khoa học - Kỹ thuật và Công nghệ quân sự (thuộc Bộ Quốc phòng) mà cụ thể là cán bộ của Viện Kỹ thuật công binh đã quyết tâm chế tạo robot dò mìn dù đây là một công việc khá mới mẻ đối với họ.

Riêng Đại tá, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Kiều còn có một lý do khác thôi thúc anh là sự hy sinh của kỹ sư Nguyễn Văn Nhiên, người bạn học thân thiết của anh ở Khóa 2, Khoa Công trình quân sự - Học viện Kỹ thuật quân sự. Người bạn này hy sinh năm 1973 trong một lần đi xử lý bom mìn ở đường Trường Sơn. “Tôi chẳng tham vọng gì nhiều mà chỉ muốn RBC góp phần hạn chế thương vong của người lính công binh sau chiến tranh” - TS. Kiều nói.

Đề tài "Nghiên cứu, thiết kế, chế thử mẫu robotcar  trợ giúp, dò tìm bom mìn" của Viện Kỹ thuật công binh do TS. Nguyễn Xuân Kiều làm chủ nhiệm hơn 1 năm trước đã hoàn thành với việc ra đời robot dò mìn đầu tiên của Việt Nam.

Nhận diện “chiến sĩ” Robotcar Việt

Mặc dù mục đích của đề tài là “chế thử” nhưng sau 1 năm, sản phẩm thử nghiệm đã chứng minh có thể đáp ứng điều kiện dò bom mìn ở Việt Nam. Robotcar (RBC) là tên, do ghép hai chữ robot và car (xe) chuyển động theo định hướng của xích, có giá tay máy lắp các thiết bị khác nhau như máy dò mìn, máy phát sóng điện từ, máy phát sóng cảm ứng, thậm chí cả máy khoan, súng bắn hơi cay và phun nước...

Khung vỏ của RBC bằng kim loại có sơn phủ, trọng lượng 150 kg, cao 1,2 m, có thể hoạt động trên bề mặt địa hình gồ ghề có độ dốc 30-400, vượt qua vật cản 20-30 cm, gắp được những vật nặng tối đa 50 kg.

Cuối tháng 12/2006, nhóm thiết kế RBC gồm Đại tá, TS. Nguyễn Xuân Kiều (Viện Kỹ thuật công binh), TS. Nguyễn Tử Dũng (Đại học Bách khoa Hà Nội) và một số kỹ sư trẻ của Viện Tự động hóa quân sự đã đưa sản phẩm RBC chạy thử giữa sân và leo cầu thang. Tốc độ di chuyển hiện đã đạt 60m/phút.

Là RBC dò mìn nên các tính năng của nó được nghiên cứu, chế tạo khá ưu việt. Trên thân nó lắp camera mini để thu hình truyền về một màn hình nhỏ. Nó có khả năng thông tin hai chiều, báo tín hiệu dò mìn, vật nổ bằng ánh sáng, âm thanh và đánh dấu phun sơn vào những nơi nó phát hiện thấy vật cần tìm.

Với những loại mìn như mìn zip, mìn lá, những người dò mìn giẫm phải có thể xảy ra tai nạn thì với RBC, có thể xử lý một cách nhanh gọn, nhẹ nhàng. Hơn thế nữa, nó hoàn toàn “vô tư” khi tiếp cận những môi trường có khí độc để đo nồng độ khí ở các hầm mỏ, dọn dẹp các vật liệu, phế thải trong các vụ cháy, nổ mà không khí bị ô nhiễm nặng.

Sắp tới, RBC thử nghiệm sẽ được chuyển giao cho Trung tâm Công nghệ xử lý bom mìn (BOMICEN) - Bộ Tư lệnh Công binh để sử dụng cùng robot Gryzzi-I do Mỹ tài trợ cho Việt Nam trong việc xử lý bom mìn sau chiến tranh. So với Gryzzi-I, RBC có điểm chưa bằng, nhưng lại khắc phục được những hạn chế của "người đồng nghiệp" ra đời trước là không to, nặng và cồng kềnh. Trong địa hình của Việt Nam, đặc biệt những nơi là chiến trường ác liệt xưa, việc một robot nhỏ và nhanh nhẹn len lỏi tìm kiếm bom mìn sẽ lợi thế hơn nhiều so với một robot như một cỗ máy đồ sộ.

Với RBC, số linh kiện, thiết bị nhập ngoại rất ít, chủ yếu là đồ nội hoặc tự chế tạo. Chỉ có một số linh kiện bán dẫn điện tử, IC, con chíp là của nước ngoài.

“Liệu cơm gắp mắm”

Đại tá Nguyễn Xuân Kiều cho biết, phải có tiền tỉ mới mua được một robot như Gryzzi-I. Vậy nhưng, đề tài RBC, chỉ có 150 triệu đồng để thực hiện. Một tập thể hơn 10 người, hơn 1 năm dốc sức cho RBC. Mỗi người một suy nghĩ cho công việc để làm sao sản phẩm ra đời được tốt nhất. Những chàng kỹ sư trẻ tuổi của phòng robot thích được thiết kế sản phẩm có dấu ấn của mình, khẳng định công nghệ quân sự Việt Nam. Những “người lính già” thì nặng lòng với đồng đội đã hy sinh vì những trái bom và những đồng đội đang làm nhiệm vụ phá bom mìn.

Năm 2006, với nhóm đề tài và chế tạo RBC, ít có ngày nghỉ và làm đêm là chuyện bình thường. Làm việc trong điều kiện kinh phí eo hẹp, nhiều linh kiện phải mua trên thị trường trôi nổi nên việc thiết kế tốn nhiều thời gian và công sức. Anh em tự bỏ tiền túi ra để... bồi dưỡng mình và thậm chí còn bỏ thêm cho cả RBC.

TS. Nguyễn Xuân Kiều đã từng thực hiện hàng chục đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ Quốc phòng từ năm 1971 đến nay nhưng đề tài này, theo ông là đề tài đầu tiên được sự tư vấn trực tiếp của các chuyên gia đầu ngành như tự động hóa, công nghệ thông tin, cơ khí chính xác, động lực học... Ai cũng nóng lòng chờ đợi được nhìn thấy hình hài của robot này.

Những cán bộ, kỹ sư thực hiện đề tài đã nghiên cứu cấu tạo, tính năng và nguyên lý hoạt động của 12 robot dò mìn đã có mặt trên thế giới trong đó có những loại phát triển trên hệ thống công nghệ rất cao với nhiều chức năng tiên tiến. Bên cạnh đó, nghiên cứu những robot trong nước như: robot hàn, robot quay phim, robot lấy sản phẩm nhựa...

Gần 1 năm, các bộ phận kỹ sư bắt đầu tiến hành tích hợp sau một quá trình thử nghiệm đi, thử nghiệm lại. Cả nhóm xúc động nhìn thành quả lao động của mình đã thành hiện thực. Điều quan trọng nhất là RBC đã chứng minh được rằng, khoa học Việt Nam nói chung và cán bộ khoa học quân sự nói riêng đã làm chủ được công nghệ tự động hóa.

TS. Nguyễn Xuân Kiều kể, sản phẩm ban đầu có dạng bánh lốp, đi rất chậm. Nguyên nhân là do bánh lốp đi không chuẩn nên RBC chuyển động theo kiểu... nhích từng bước. Sau đó, bánh lốp được thay thế dạng xích như xích xe tăng. Ưu thế của loại bánh này là bám chắc, nhưng lại có một nhược điểm là bám vào vật cứng không chắc nên tiến tới thay thế bằng vỏ cao su, lõi thép.

Để RBC hoàn thiện hơn...

RBC chuyển động nhờ hai động cơ một chiều, nguồn nuôi động cơ hiện tại là... ắc quy Đồng Nai. Lực được truyền vào hai bánh chủ động, kéo đai xích, thông qua bánh xích truyền chuyển động cho các bánh bị động. Trong tương lai gần, để giảm trọng lượng của RBC cũng như để nó có thể lách vào những địa hình phức tạp cần những loại ắc quy nhỏ với nguồn năng lượng lớn hơn, vì thế, ắc quy có thể nhập ngoại.

Theo TS. Nguyễn Xuân Kiều, tính năng RBC không thua kém gì các robot của nước ngoài nhưng hiện tại vẫn chưa có điều kiện kinh phí để hoàn chỉnh việc lắp sensor tránh vật cản. Nhưng TS. Kiều vẫn tin trong tương lai, RBC chắc chắn được đầu tư, bởi nó không chỉ theo chân các chiến sĩ công binh đi giải quyết số bom mìn còn sót lại trong chiến tranh mà còn phát hiện những vật lạ ở những địa điểm nhạy cảm, và vào các khu công nghiệp, các hầm mỏ để xử lý môi trường.

Sau khi RBC được hoàn chỉnh, nếu có điều kiện, nhóm đề tài sẽ nghiên cứu, chế tạo những RBC mới, dạng hình con rắn, con rết với động cơ gọn nhẹ hơn “người anh cả” để linh động trong mọi địa hình. TS. Kiều  khẳng  định: “Điều đó không quá khó với chúng tôi. Trung tâm Khoa học - Kỹ thuật và Công nghệ quân sự có xưởng sản xuất đủ sức chế tạo RBC như các nước công nghệ cao. Chúng tôi chỉ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Vì thế, để RBC không đơn độc cần có sự đầu tư hỗ trợ hoàn thiện, chế tạo hàng loạt và mở rộng ứng dụng"

Hoàng Nguyên Vũ
.
.
.