Pervitin và những người lính ma túy của Hitler

Thứ Tư, 10/07/2019, 12:18
Nhiều binh sĩ Wehrmacht (lực lượng vũ trang Đức quốc xã) rất thích Pervitin khi họ bước vào trận chiến, đặc biệt ở Ba Lan và Pháp. Quân đội Đức được cung cấp hàng triệu viên Pervitin trong nửa đầu năm 1940.

Thuốc kích thích là một phần trong kế hoạch giúp phi công, thủy thủ và lính bộ binh có khả năng chiến đấu… siêu phàm. Giới lãnh đạo quân đội Đức tự do phân phát các chất kích thích như vậy, nhưng cũng có rượu và thuốc phiện vì họ tin rằng quân đội sử dụng ma túy và say xỉn có thể dễ dàng giành chiến thắng trước quân Đồng minh!

Ba mươi lăm triệu viên Pervitin

Nhưng Đức Quốc xã không hề quan tâm theo dõi các tác dụng phụ do nghiện ma túy như là làm suy giảm các tiêu chuẩn đạo đức. Sau khi được đưa vào thị trường lần đầu tiên vào năm 1938, Pervitin - một loại chất kích thích mạnh mới được phát triển bởi công ty dược phẩm Temmler Werke GmbH đặt trụ sở tại Berlin - đã nhanh chóng trở thành một sản phẩm bán chạy nhất trong dân số Đức.

Chất kích thích Pervitin đã được chuyển đến cho những người lính ở mặt trận.

Thậm chí, ngành sản xuất bánh kẹo hay socola cũng bắt đầu sử dụng loại thuốc này. Phụ nữ được khuyên ăn từ 2 tới 3 thanh kẹo chứa hợp chất Pervitin vì nó giúp họ làm việc cả ngày không biết mệt mỏi. Chưa kể, thuốc giúp giảm cân. Không lâu sau, binh lính bắt đầu lạm dụng loại thuốc này. 

Năm 1940, quân Đức chuẩn bị xâm lược Pháp. Một "sắc lệnh chất kích thích" đã được gửi tới các bác sĩ quân y, khuyến khích binh sĩ dùng thuốc từ một tới hai viên mỗi ngày. Nếu cần, có thể sử dụng sau mỗi 4 giờ nếu cần.

Nhà máy Temmler phải tăng sản xuất để đáp ứng nhu cầu. Loại thuốc này giúp các binh sĩ thức trắng 3 ngày 3 đêm không cần ngủ. Do đó, thuốc Pervitin trở thành một "vũ khí" tối quan trọng với quân đội Đức.

Theo một báo cáo trong tạp chí y khoa Áo Klinische Wochenschrift, Pervitin thu hút sự chú ý của Otto Ranke, một bác sĩ quân y và giám đốc Viện Sinh lý học và Quốc phòng thuộc Học viện Quân y Berlin. Pervitin khiến người dùng không cần ngủ  - bác sĩ Otto Ranke cũng cho biết ông nghiện thuốc và có thể làm việc liên tục 50 giờ đồng hồ không nghỉ. Tác dụng của Pervitin tương tự như adrenaline do cơ thể sản xuất, gây ra trạng thái cảnh giác cao độ.

Đến cuối cuộc chiến, Đức đã sử dụng những người lính trẻ hơn. Ngày càng có nhiều người dựa vào ma túy hoặc rượu để dấn thân vào cuộc chiến với quân đồng minh.

Ở hầu hết mọi người, Pervitin làm tăng sự tự tin, sự tập trung và sẵn sàng chấp nhận rủi ro; đồng thời làm giảm sự nhạy cảm với cơn đau, đói và khát, cũng như giảm nhu cầu ngủ. 

Vào tháng 9-1939, Ranke đã thử nghiệm thuốc trên 90 sinh viên đại học và kết luận rằng Pervitin có thể giúp Wehrmacht  chiến thắng trong cuộc chiến. Lúc đầu, Pervitin được thử nghiệm trên các lái xe quân sự tham gia vào cuộc xâm lược Ba Lan. Sau đó, theo nhà tội phạm học Wolf Kemper, nó đã được "phân phối một cách vô đạo đức cho quân đội chiến đấu ở mặt trận".

Trong khoảng thời gian ngắn từ tháng 4 đến tháng 7-1940, hơn 35 triệu viên Pervitin và Isophan (phiên bản sửa đổi một chút do công ty dược phẩm Knoll sản xuất) được chuyển đến quân đội và không quân Đức. Một số viên Pervitin - mỗi viên chứa 3miligam hoạt chất - được gửi đến các bộ phận y tế của Wehrmacht dưới tên mã OBM, sau đó được phân phối trực tiếp cho quân đội. 

Người sử dụng mua cocaine trên đường phố Berlin năm 1924.

Một đơn đặt hàng gấp thậm chí có thể được đặt qua điện thoại nếu một lô hàng là cần thiết khẩn cấp. Các gói được dán nhãn "Chất kích thích", và các hướng dẫn khuyến cáo một liều từ một đến hai viên "chỉ khi cần thiết, để duy trì tình trạng tỉnh táo". Ngay cả khi đó, các bác sĩ vẫn lo ngại về thực tế rằng giai đoạn phục hồi cơ thể sau khi dùng thuốc ngày càng trở nên dài hơn và hiệu quả giảm dần ở những người dùng thường xuyên.

Trong các trường hợp riêng biệt, người dùng gặp phải các vấn đề sức khỏe như ra mồ hôi quá nhiều và rối loạn tuần hoàn, thậm chí có một vài trường hợp tử vong. Leonardo Conti, Bộ trưởng Y tế Đức Quốc xã và là người tuân thủ niềm tin khổ hạnh của Adolf Hitler, đã cố gắng hạn chế sử dụng thuốc, nhưng chỉ thành công ở mức độ khiêm tốn. Pervitin thường được xem là một loại thuốc đã được chứng minh sẽ được sử dụng khi những người lính có khả năng bị căng thẳng cực độ.

Tháng 1-1942, một nhóm 500 lính Đức đóng quân ở mặt trận phía Đông và bị Hồng quân bao vây đang cố gắng trốn thoát. Nhiệt độ là âm 30 độ C. Một bác sĩ quân đội viết trong báo cáo của mình rằng vào khoảng nửa đêm, sau 6 giờ chạy trốn trên mặt tuyết mà có những nơi sâu đến thắt lưng, "càng lúc càng có nhiều binh lính kiệt sức đến nỗi bắt đầu nằm lăn xuống tuyết". Các sĩ quan chỉ huy quyết định cấp Pervitin cho những người lính của họ.

Bác sĩ viết: "Chỉ sau nửa giờ, những người lính bắt đầu báo cáo một cách tự nhiên rằng họ cảm thấy tốt hơn. Họ bắt đầu bước đi một cách có trật tự một lần nữa, tinh thần cũng được cải thiện, và họ trở nên tỉnh táo hơn". 

Phải mất gần 6 tháng để báo cáo được chuyển đến ban chỉ huy y tế cao cấp của quân đội. Nhưng phản ứng của họ chỉ đơn thuần là đưa ra các hướng dẫn mới để sử dụng Pervitin - bao gồm thông tin về các rủi ro hầu như không khác với các hướng dẫn trước đó. "Hướng dẫn phát hiện và chống mệt mỏi", ban hành ngày 18-6-1942, vẫn giống như trước đây: "Hai viên thuốc được uống một lần để loại bỏ nhu cầu ngủ trong 3 đến 8 giờ, và hai liều hai viên mỗi lần là bình thường có hiệu lực trong 24 giờ".

Đến cuối cuộc chiến, Đức Quốc xã thậm chí còn nghiên cứu một viên thuốc thần kỳ cho quân đội của họ. Tại cảng biển Kiel phía bắc nước Đức, vào ngày 16-3-1944, Phó đô đốc Hellmuth Heye yêu cầu một loại thuốc "có thể giúp những người lính sẵn sàng chiến đấu khi họ được yêu cầu tiếp tục chiến đấu vượt quá thời gian, đồng thời nâng cao lòng tự trọng của họ". 

Một thời gian ngắn sau, dược sĩ Gerhard Orzechowski tặng Heye một viên thuốc có tên mã D-IX. Nó chứa 5miligam cocaine, 3miligam Pervitin và 5miligam Eukodal (một loại thuốc giảm đau dựa trên morphin). 

Ngày nay, một kẻ buôn ma túy bị bắt với loại ma túy mạnh này sẽ bị tống vào tù. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, loại thuốc này đã được thử nghiệm trên các thành viên làm việc trên các tàu ngầm nhỏ nhất của hải quân Đức Quốc xã gọi là "Hải cẩu" và "Hải ly".

Rượu và morphine trở thành vấn đề của Đức quốc xã

Rượu cũng rất phổ biến trong quân đội Đức Quốc xã. Về vấn đề tiêu thụ rượu, Walter Kittel, một vị tướng trong ngành quân y, viết rằng "chỉ có kẻ cuồng tín mới từ chối đưa cho một người lính thứ gì đó có thể giúp anh ta thư giãn và tận hưởng cuộc sống sau khi anh ta phải đối mặt với nỗi kinh hoàng của trận chiến, hoặc sẽ khiển trách anh ta vì đã tận hưởng một hoặc hai đồ uống thân thiện với đồng đội của mình". 

Do đó, các sĩ quan thường phân phối rượu cho binh sĩ của họ như một phần thưởng, và loại thức uống chứa cồn này được bán tràn lan trong các căng tin quân đội.

Công nhân tại nhà máy Temmler ở Berlin đã sản xuất 35 triệu viên Pervitin cho quân đội Đức Quốc xã vào năm 1940.

Nhà sử học Peter Steinkamp, một chuyên gia về lạm dụng ma túy ở Wehrmacht, nói: "Bộ chỉ huy quân sự đã nhắm mắt làm ngơ với việc tiêu thụ rượu, miễn là nó không dẫn đến tình trạng say rượu công khai trong quân đội". 

Nhưng vào tháng 7-1940, Hitler ban hành lệnh sau: "Tôi muốn các thành viên của Wehrmacht, dính líu vào các hành vi tội phạm do lạm dụng rượu phải bị trừng phạt nghiêm khắc". Những kẻ phạm tội nghiêm trọng thậm chí có thể phải chịu "một cái chết nhục nhã". Nhưng sự cám dỗ của rượu rõ ràng mạnh hơn những lời lẽ đe dọa của Hitler.

Chỉ một năm sau, Tổng tư lệnh quân đội Đức - Tướng Walther von Brauchitsch - kết luận rằng quân đội của ông đã phạm "những vi phạm nghiêm trọng nhất" về đạo đức và kỷ luật, và thủ phạm là "lạm dụng rượu". Trong số các tác động bất lợi của lạm dụng rượu mà ông nêu ra là đánh nhau, tai nạn, ngược đãi cấp dưới, bạo lực chống lại các sĩ quan cấp trên và "tội ác liên quan đến các hành vi tình dục không tự nhiên". Đại tướng tin rằng rượu đang gây nguy hiểm cho "kỷ luật trong quân đội".

Theo một thống kê nội bộ do người đứng đầu quân y Đức quốc xã biên soạn, 705 trường hợp tử vong trong quân đội từ tháng 9-1939 đến tháng 4-1944 có thể liên quan trực tiếp đến rượu nhưng con số không chính thức có lẽ cao hơn nhiều. Các nhân viên y tế được hướng dẫn đưa những người lính nghiện rượu và ma túy vào các cơ sở điều trị. 

Sau khi bị giam giữ trong các cơ sở này, người nghiện được đánh giá theo các điều khoản của "Luật phòng ngừa con cái mắc bệnh di truyền", và thậm chí có thể bị buộc phải triệt sản và trợ tử. Số trường hợp binh sĩ bị mù hoặc thậm chí chết do ngộ độc rượu methanol bắt đầu tăng vọt.

Từ năm 1939 trở đi, Viện Pháp y của Đại học Berlin liên tục liệt kê rượu methanol là yếu tố hàng đầu gây tử vong do độc chất cao. 

Để răn đe những người lính khác, một sĩ quan 36 tuổi bị xử tử ở Na Uy vào mùa thu năm 1942. Viên sĩ quan đã bán 5 lít rượu methanol, mà anh ta tuyên bố là 98% cồn, cho đơn vị phòng thủ chống tăng của một trung đoàn bộ binh. Sau khi uống loại rượu methanol này, một số binh sĩ ngã bệnh, và hai người chết. Viên sĩ quan đã bị hành quyết bởi một đội xử bắn.

Theo nhật lệnh ban hành vào ngày 2-10-1942, "hình phạt sẽ được thông báo cho quân đội và các đơn vị phụ trợ, và nó sẽ được sử dụng như một công cụ cảnh cáo nhiều lần và kéo dài". Nhưng những người lính dường như cảm thấy rằng bất cứ điều gì có thể giúp họ thoát khỏi sự khủng khiếp của chiến tranh là chính đáng. Mặc dù hiểu biết chung về các rủi ro liên quan, nghiện morphin đã trở nên phổ biến trong số các nhân viên y tế và thương binh trong suốt cuộc chiến.

Vào năm 1945, số bác sĩ quân đội nghiện morphine gấp 4 lần so với lúc bắt đầu chiến tranh. Vào ngày 10-5-1940, sĩ quan y tế Franz Wertheim viết báo cáo: "Để giúp vượt qua thời gian, các bác sĩ chúng tôi đã tự mình thử nghiệm. Chúng tôi sẽ bắt đầu ngày mới với một cốc rượu và 2 mũi tiêm morphine. Chúng tôi thấy cocaine có ích vào buổi trưa, và vào buổi tối, chúng tôi thỉnh thoảng uống một loại chất kích thích khác. Kết quả là, chúng tôi không phải lúc nào cũng hoàn toàn làm chủ các giác quan của mình".

Để ngăn chặn sự bùng phát nghiện morphine trong quân đội, Giáo sư và bác sĩ tâm lý Đức Quốc xã Otto Wuth đề xuất một biện pháp vào tháng 2-1941. Theo đề xuất của Wuth, tất cả những thương binh bị nghiện do điều trị phải được báo cáo  đến "Hội đồng y tế" để họ được cung cấp hợp pháp morphine hoặc được kiểm tra thường xuyên và gửi đến các trung tâm điều trị cai nghiện ma túy. 

"Theo cách này", Wuth kết luận, "những thương binh nghiện morphin sẽ được theo dõi, và từ đó toàn bộ nhóm người này sẽ được ngăn chặn trở thành tội phạm".

Diên San (tổng hợp)
.
.
.