Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Thứ Sáu, 24/04/2026, 07:39

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Tháng 7/1954, trong bầu không khí oi nồng của mùa hè ở Cairo và Alexandria, đời sống chính trị cũng sục sôi không kém. Nước Anh đang tiến hành những cuộc đàm phán đầy căng thẳng với chính phủ cách mạng của Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser về việc rút quân khỏi khu vực Kênh đào Suez, nút thắt chiến lược nối liền Đông - Tây.

Đối với nhà nước Israel non trẻ vừa mới giành được độc lập, việc người Anh sắp rút quân chẳng khác nào một thảm họa. Sự hiện diện quân sự của Anh đã kìm hãm những tham vọng của Ai Cập. Thiếu nó, Israel cảm thấy mình trở nên yếu ớt trước một nước láng giềng thù địch. Để ngăn chặn việc Anh rút quân khỏi Ai Cập,  AMAN đã xây dựng chiến dịch với mật danh “Susannah”. Một chiến dịch mà sự vô đạo đức và vô liêm sỉ của nó làm rúng động cả những cựu binh dày dạn nhất trong các cuộc chiến tranh ngầm. Mục tiêu của nó là thiêu rụi mối quan hệ giữa Ai Cập và phương Tây. Phương pháp của nó là khủng bố dưới màu cờ giả. Và cái giá của nó là sinh mệnh của các điệp viên bị đem ra làm quân cờ.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel -0
Đại tá Binyamin Gibli, Cục trưởng Cục Tình báo Quân đội Israel.

Thật nghịch lý, Israel lại lo sợ một thỏa thuận hòa bình diễn ra quá nhanh giữa Ai Cập và Anh quốc. Việc quân đội Anh rút khỏi khu vực Kênh đào Suez đồng nghĩa với việc quân đội Ai Cập sẽ tăng cường sức mạnh tại bán đảo Sinai, ngay sát biên giới của nhà nước Do Thái. Bộ trưởng Quốc phòng Israel Pinhas Lavon và những sĩ quan đầy tham vọng của AMAN, do Đại tá Binyamin Gibli, Cục trưởng Cục Tình báo Quân đội, dẫn đầu, chỉ thấy một giải pháp duy nhất: phá hoại cuộc đàm phán bằng cách dàn dựng hình ảnh một làn sóng bạo lực ngay trong lòng Ai Cập, nhằm chống lại các lợi ích của phương Tây.

Tính toán của họ rất đơn giản: nếu các cơ sở của Mỹ và Anh bắt đầu bị đốt phá và đánh bom, còn tội lỗi được đổ lên đầu những người theo chủ nghĩa dân tộc Ai Cập, những kẻ Hồi giáo cực đoan hay những người cộng sản, thì London và Washington không chỉ từ chối rút quân mà còn tỏ rõ lập trường cứng rắn đối với Tổng thống Gamal Abdel Nasser. Xung đột sẽ leo thang, đàm phán bị chôn vùi và hiện trạng được duy trì. Mục đích biện minh cho phương tiện. Và những phương tiện được chọn thật sự tàn bạo.

Tháng 7/1954 đã trở thành cơn ác mộng đối với các phái đoàn ngoại giao và văn hóa của phương Tây tại Ai Cập. Một loạt các vụ phóng hỏa và đánh bom, tưởng chừng như không liên quan đến nhau, đã càn quét hai thành phố chính của đất nước:

Ngày 2/7: Thư viện Mỹ tại Alexandria bị phóng hỏa.

Ngày 14/7: Các bưu điện tại Alexandria và Cairo bị gài mìn. Quả bom tại bưu điện Cairo đã không phát nổ.

Ngày 23/7: Hỏa hoạn bùng phát tại thư viện Mỹ ở Cairo và một cơ quan của Anh. Sóng xung kích làm vỡ kính tòa nhà lãnh sự quán Mỹ.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel -0
Pinhas Lavon, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Israel.

Đêm định mệnh 23/7: Một nhóm hai người gồm Philippe Nathanson và Victor Levy được giao nhiệm vụ đặt các thiết bị gây cháy tại rạp chiếu phim "Rio" và "Metropol" ở Alexandria, nơi đang  chiếu phim Mỹ. Mục tiêu là gây ra sự hoảng loạn nhưng không có thương vong (như họ đã được hứa). Thế nhưng, tại rạp "Rio", đã xảy ra một sự cố bi thảm.

Philippe Nathanson đã mắc phải một sai lầm chí mạng khi đang tìm cách đặt quả bom vào túi sau ghế trong khán phòng chật kín khán giả của rạp "Rio". Thiết bị phát nổ ngay trên tay anh ta. Nathanson bị bỏng nặng ở mặt và tay nhưng đã thoát chết. Việc quả bom phát nổ sớm không chỉ kích hoạt quả bom, mà còn cả toàn bộ chiến dịch "Susannah".

Cảnh sát Ai Cập ngay lập tức huy động toàn bộ lực lượng vào cuộc. Dựa trên những dấu vết nóng hổi và lời khai của các nhân chứng, các thành viên của nhóm khủng bố bí mật bắt đầu bị bắt giữ. Philippe Nathanson bị bắt ngay sau vụ nổ tại rạp "Rio". Trước những đòn tra tấn dã man của cảnh sát Ai Cập, anh ta đã đưa ra những lời khai đầu tiên.

Philippe Nathanson tìm cách đánh lạc hướng dư luận bằng việc tuyên bố mình là người cộng sản và nhận được chỉ thị từ Moscow. Lời nói dối này nhằm cứu bản thân cùng đồng đội và làm rối loạn quá trình điều tra. Nhưng, các điều tra viên Ai Cập không hề mắc bẫy. Mạng lưới bắt đầu sụp đổ nhanh chóng, các cuộc bắt giữ diễn ra liên tiếp. Marcelle Ninio, Robert Dassa, Victor Levy, Shmuel Azar và các thành viên khác của nhóm lần lượt sa lưới.

Vì sao chính quyền Ai Cập có thể lần theo dấu vết của nhóm này nhanh như vậy? Trong  nhiều thập kỷ, các nguồn tin chính thức của Israel khẳng định giả thuyết về một điệp viên hai mang. Nghi phạm chính là Avraham (John) Dar, liên lạc viên ở Tel Aviv, người trực tiếp điều hành nhóm. Tuy nhiên, những bằng chứng thuyết phục hơn lại chỉ ra một thành viên khác trong mạng lưới: Abraham Seidenberg (mật danh là "Paul Frank").

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel -0
Philippe Nathanson.

Theo các nhà sử học và cựu điệp viên Israel, khi nhận thấy nguy hiểm cận kề, Seidenberg đã phản bội đồng đội bằng cách cung cấp cho lực lượng phản gián Ai Cập thông tin về các kế hoạch và thành viên của nhóm. Anh ta là người bị bắt sau cùng và có thái độ lảng tránh đầy nghi vấn trong quá trình thẩm vấn. Sau này, khi được trả tự do trong một cuộc trao đổi tù nhân và trở về Israel, Seidenberg đã bị tòa án quân sự xét xử vì tội phản quốc và bị kết án 12 năm tù. Tình tiết này đã gián tiếp xác nhận giả thuyết về sự phản bội của anh ta.

Tuy nhiên, và đây là điều cực kỳ quan trọng, chính các thành viên của nhóm "Susannah", kể cả Robert Dassa và Marcelle Ninio, đến tận cuối đời, vẫn kiên quyết bác bỏ giả thuyết về sự phản bội trong hàng ngũ của mình. Họ cho rằng thất bại là kết quả của một sự cố ngẫu nhiên định mệnh (vụ nổ tại rạp "Rio"), cộng với sự thiếu chuyên nghiệp của ban lãnh đạo tại Tel Aviv (đã cung cấp những thiết bị không đáng tin cậy) và một kế hoạch tác chiến sơ hở. Đồng thời, trình độ nghiệp vụ cao của cảnh sát Ai Cập sau đó đã đặt dấu chấm hết cho chiến dịch này. "Chúng tôi được huấn luyện để làm gián điệp, được dạy cách thu thập tin tức, chứ không phải để tổ chức các vụ phá hoại" - Robert Dassa sau này nhớ lại.

Họ coi việc kết tội Seidenberg là một nỗ lực của ban lãnh đạo AMAN nhằm tìm kiếm “vật tế thần” và đổ lỗi cho ông về thất bại của chiến dịch và những nỗi thống khổ mà họ phải gánh chịu sau đó. Đối với họ, kẻ phản bội là nhà nước Israel.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel -0
Marcelle Ninio.

Phiên tòa xét xử các thành viên của nhóm bí mật bị bắt giữ (ở Israel nó được gọi  là "Vụ án Ai Cập" hoặc "Vụ án Lavon" (theo tên Bộ trưởng Quốc phòng thời bấy giờ), bắt đầu tại Cairo vào tháng 12/1954. Sự kiện này trở thành một vụ bê bối quốc tế. Các cáo buộc rất nghiêm trọng: hoạt động gián điệp, khủng bố và âm mưu chống phá nhà nước. Chính phủ Israel, đứng đầu là Thủ tướng Moshe Sharett, giữ lập trường hoàn toàn phủ nhận.

Trong bài phát biểu trước Knesset (Quốc hội) ngày 12/1/1955, ông Moshe Sharett đã thốt ra những lời trở thành biểu tượng cho sự đạo đức giả của quốc gia:

"Chính phủ Israel bác bỏ hoàn toàn những cáo buộc sai trái của các công tố viên Ai Cập đưa ra, khi gán ghép chính quyền Israel với những hành vi tồi tệ nhất và buộc tội nước này âm mưu chống lại an ninh và tự do trong các quan hệ quốc tế của Ai Cập. Chúng tôi coi những người Do Thái vô tội đang bị chính quyền Ai Cập cáo buộc những  tội ác khủng khiếp nhất là nạn nhân của sự thù địch chưa từng có đối với Nhà nước Israel. Chúng tôi kêu gọi tất cả những ai tin tưởng vào hòa bình, ổn định và quan hệ nhân đạo giữa các quốc gia, hãy ngăn chặn sự bất công nghiêm trọng này".

Trong khi đó, những "người Do thái vô tội" được chính quyền Israel cử đi làm nhiệm vụ này đang ngồi trên ghế bị cáo tại Cairo. Hai người trong số họ, Marcelle Ninio và Robert Dassa, bị tuyên án tử hình (sau giảm xuống chung thân). Philippe Nathanson và Victor Levy nhận án 15 năm khổ sai, số còn lại cũng lĩnh những bản án dài hạn. Họ đã phải chịu đựng không chỉ nỗi kinh hoàng của nhà tù Ai Cập, mà còn cả sự thật cay đắng rằng quốc gia mà họ đã mạo hiểm tất cả để phục vụ, lại công khai chối bỏ họ.

Các tù nhân  "Vụ án Ai Cập" chỉ được trả tự do sau cuộc Chiến tranh Sáu ngày năm 1967. Nhà nước mà họ phụng sự không chỉ bỏ mặc họ trong cơn hoạn nạn, mà còn công khai gọi họ là những kẻ dối trá và là nạn nhân của bộ máy tuyên truyền Ai Cập.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel -0
Max Bennett.

Sau khi trở về Israel, Robert Dassa, Marcelle Ninio, Philippe Nathanson, Victor Levy và những người khác đã phải trải qua nhiều năm đấu tranh gian khổ với nhà nước Israel. Họ yêu cầu được công nhận chính thức tư cách điệp viên hành động theo mệnh lệnh của quốc gia; được phục hồi danh dự để xóa bỏ vết nhơ "kẻ phản bội"; được bồi thường cho những năm tháng tuổi trẻ đã mất và sức khỏe bị tàn phá; và một lời xin lỗi công khai vì sự chối bỏ và dối trá của nhà nước.

"Susannah" là một chiến dịch không có người chiến thắng, chỉ có nạn nhân và những bài học  đắt giá. Đây là câu chuyện về việc nỗi sợ hãi và sự hoài nghi của giới lãnh đạo cấp cao đã dẫn đến cái chết của những người lính bình thường. Khi khủng bố được dùng làm quân bài để thao túng các cường quốc, đã gây ra nỗi hổ thẹn quốc gia và những bi kịch cá nhân.

Chiến dịch này là một lời nhắc nhở: trong thế giới  tình báo, cái giá của thất bại không chỉ đo bằng những bí mật bị rò rỉ, mà còn bằng sinh mệnh của những con người bị cuốn vào vòng xoáy với những lời hứa hão huyền và những khẩu hiệu yêu nước sáo rỗng.

Trần Hậu
.
.
.