Tại sao Liên Xô không đưa người lên mặt trăng trước Mỹ?
Vào cuối năm 1961, để xoa dịu dư luận về sự yếu kém của Mỹ trong cuộc chạy đua đưa người đầu tiên vào không gian với Liên Xô và sự thất bại của Mỹ trong sự kiện Vịnh Con lợn ở Cuba, Tổng thống John Kennedy đã tuyên bố hùng hồn: "Trong vòng 10 năm tới, người Mỹ sẽ là người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng".
Cũng vào thời kỳ đó, mục tiêu chính của Liên Xô trong cuộc chạy đua vào không gian với Mỹ chưa phải là đặt chân lên mặt trăng mà là hoàn thiện tối đa các chuyến bay có người điều khiển vào quỹ đạo ngoài trái đất.
Sau thành công của các chuyến bay Vostok rồi Voskhod (với việc đưa người phụ nữ đầu tiên lên không gian - nữ phi hành gia Valentina Terechkova, người đầu tiên bước ra ngoài không gian - phi hành gia Alexei Leonov), Liên Xô mới đặt vấn đề tổ chức các chuyến bay thám hiểm và đưa người lên mặt trăng. Nhiệm vụ đưa người lên mặt trăng được giao cho nhóm của giáo sư Sergei Korolev, còn nhiệm vụ thực hiện các chuyến bay thám hiểm mặt trăng được giao cho nhóm của giáo sư Vladimir Tchelomei.
Theo tính toán của giáo sư Korolev, để đưa được người lên mặt trăng cần phải triển khai thế hệ tên lửa đẩy cực mạnh loại N1 có thể đưa một vật thể nặng từ 40 đến 50 tấn đến quỹ đạo của mặt trăng. Riêng giáo sư Tchelomei lại muốn phát triển thế hệ tên lửa đẩy loại Proton có thể đưa một phi thuyền không người lái thám hiểm chung quanh mặt trăng.
Vào tháng 7/1962, mô hình đầu tiên của tên lửa đẩy N1 bắt đầu được chế tạo và đưa vào thử nghiệm với tổng trọng lượng lên đến 2.200 tấn. Thế nhưng, vấn đề đặt ra là nên sử dụng loại nhiên liệu nào để khai hỏa và đẩy tên lửa. Lúc đó có hai khả năng để giáo sư Korolev chọn lựa, hoặc sử dụng loại nhiên liệu năng lượng cao nhưng rất độc hại cho môi trường nếu chẳng may tên lửa gặp sự cố trên mặt đất hoặc sử dụng loại nhiên liệu năng lượng thấp không độc hại.
Giáo sư Valentin Gluchko, chuyên gia hàng đầu của Liên Xô về bộ phận máy của tên lửa vào thời kỳ đó muốn sử dụng loại nhiên liệu năng lượng cao để phóng tên lửa N1, nhưng giáo sư Korolev, do muốn giảm tối đa thiệt hại cho con người và môi trường nếu chẳng may tên lửa N1 gặp tai nạn trên mặt đất lại muốn sử dụng loại nhiên liệu không độc hại. Do không giải quyết được bất đồng về mặt kỹ thuật này nên cuối cùng giáo sư Gluchko thôi không cộng tác với nhóm của giáo sư Korolev. Thế là, giáo sư Korolev buộc phải quay sang cộng tác với một nhà chuyên môn về động cơ... máy bay là giáo sư Dimitri Kuznetsov. Vì lý do này mà chương trình thử nghiệm tên lửa đẩy N1 phải chậm lại một thời gian.
Trong khi đó, chương trình Apollo của Mỹ, với mục tiêu chính là đưa người lên mặt trăng trước thập niên 70, đã bước vào giai đoạn quan trọng là thử nghiệm các mô hình tàu đổ bộ (LEM), được xem là giai đoạn quyết định sự thành bại của việc con người có thể đặt chân lên mặt trăng được hay không. Chính vì sự phát triển nhanh của chương trình Apollo mà vào năm 1964, Liên Xô quyết định tăng tốc trong cuộc chạy đua với Mỹ.
Vào cuối năm 1964, nhóm của giáo sư Korolev đã hoàn chỉnh cơ bản việc chế tạo tên lửa đẩy N1 và tàu đổ bộ mang ký hiệu L3 có thể đưa một người xuống mặt trăng rồi quay về lại trái đất. Trong khi đó, mãi đến năm 1965, các cuộc thử nghiệm tên lửa đẩy Proton của nhóm giáo sư Tchelomei cứ gặp hết thất bại này đến thất bại khác khiến cuộc chạy đua lên mặt trăng bị ảnh hưởng rất nhiều.
Giáo sư Vassily Pavlovitch Michine, viện sĩ Viện hàn lâm không gian của Liên Xô, trong cuốn sách có tựa đề Tại sao chúng ta không đặt chân lên mặt trăng? được phát hành tại Pháp vào năm 1995, đã nhận định: “Chính việc để hai chương trình thám hiểm và đưa người lên mặt trăng của giáo sư Korolev và giáo sư Tchelomei phát triển song song với nhau đã khiến cho các cố gắng của chúng ta bị phân tán, từ tài chính cho đến trí lực và nguồn lực. Có đến 500 xí nghiệp, nhà máy và cơ quan chính phủ cùng tham gia thực hiện hai chương trình này. Với nhiều lý do khác nhau, nhiều nhà máy đã không giao đúng hợp đồng các loại nguyên vật liệu, phụ tùng cần thiết để phục vụ cho công tác chế tạo các tên lửa đẩy và cả tàu đổ bộ. Việc quản lý khoản kinh phí khổng lồ lên đến 2,9 tỉ rúp phục vụ cho chương trình thám hiểm và đưa người lên mặt trăng lại do nhiều cơ quan chính phủ khác nhau đảm nhận như Ủy ban Khoa học không gian, Ủy ban Công nghiệp và Quốc phòng... Trong khi đó, khoản kinh phí 120 tỉ USD dành cho chương trình Apollo chỉ được giao cho một mình Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) quản lý và sử dụng”.
Mọi hy vọng đưa người lên mặt trăng vào lúc đó của Liên Xô đều dồn vào chương trình N1-L3 của giáo sư Korolev. Thế nhưng vào tháng 4/1966 đã xảy ra một sự việc nghiêm trọng: giáo sư Korolev đã qua đời trong một ca phẫu thuật khối u cột sống. Giáo sư Vassily Michine, lúc đó đang là phó cho giáo sư Korolev được giao nhiệm vụ điều hành chương trình N1-L3. Tuy nhiên, việc qua đời đột ngột của giáo sư Korolev đã làm ảnh hưởng không ít đến chương trình đưa người lên mặt trăng của Liên Xô.
Trong khi nhóm của giáo sư Michine vẫn còn loay hoay với việc thử nghiệm tên lửa đẩy N1 thì chương trình Apollo bắt đầu tăng tốc sau khi Mỹ cho máy bay do thám loại U-2 không thám và phát hiện các vụ thử nghiệm tên lửa đẩy tại sân bay vũ trụ Baikonour của Liên Xô. Vào tháng 10/1967, khi việc thử nghiệm tên lửa đẩy N1 thất bại lần thứ ba và Liên Xô quyết định sử dụng tên lửa đẩy Proton của giáo sư Tchelomei thay thế tên lửa đẩy N1 thì vào ngày 25/11/1968, 3 phi hành gia người Mỹ là Borman, Lowell và Andrew đã có mặt trên quỹ đạo mặt trăng với phi thuyền Apollo 10.
Đầu năm 1969, biết rằng không thể đưa người lên mặt trăng trước Mỹ nên Liên Xô quyết định đình hoãn các chương trình thám hiểm và đưa người lên mặt trăng của mình và bắt tay triển khai chương trình chế tạo các trạm không gian đầu tiên có người điều khiển và làm việc. Chương trình này đã mở ra một kỷ nguyên mới trong nghiên cứu không gian của con người. Vào ngày 21/7/1969, khi cả thế giới hồi hộp theo dõi qua màn ảnh nhỏ cảnh phi hành gia Neil Amstrong đặt những bước chân đầu tiên xuống mặt trăng thì chương trình phóng các không trạm thế hệ Salyut của Liên Xô ra ngoài không gian bắt đầu khởi động để đón nhận các nhà khoa học lên làm việc và nghiên cứu.
Trong khi người Mỹ còn ngây ngất với thành công của mình thì từ năm 1971 đến năm 1986, các tên lửa đẩy Proton đã lần lượt đưa đến 7 không trạm Salyut lên không gian. Liên Xô đã tiến một bước dài và qua mặt cả Mỹ trong việc thực hiện các chuyến nghiên cứu dài ngày của con người vào không gian.
Vào cuối thập niên 70, một kế hoạch đưa người lên mặt trăng mới của Liên Xô đã được triển khai với việc sử dụng hai tên lửa đẩy Proton để đưa 3 phi hành gia đặt chân lên mặt trăng vào năm 1980. Thế nhưng, kế hoạch này lại bị đình hoãn khi thế hệ tàu con thoi sử dụng nhiều lần đưa người lên không gian của Mỹ ra đời với việc phóng thử nghiệm thành công tàu con thoi Columbia vào tháng 4/1981. Thế là Liên Xô lại bắt tay vào cuộc chạy đua chế tạo tàu con thoi với Mỹ. Một lần nữa, các nhà khoa học Liên Xô lại lỡ hẹn lên mặt trăng
