Phát minh từ sự ngẫu nhiên

Thứ Ba, 14/12/2004, 07:42
Tim Berners Lee là nhà vật lý và nhà khoa học máy tính tài ba của nước Anh. Năm 1991, ông đã sáng chế ra mạng World Wide Web. Đó là một công trình được nghiên cứu trong suốt  10 năm và xuất phát từ một sự tình cờ ngẫu nhiên...

Đến nay, ông vẫn điều hành phần lớn mạng này từ văn phòng làm việc của mình ở Viện Kỹ thuật Massachusetts. Năm 1999, tạp chí Time xếp ông vào danh sách “100 nhân vật của thế kỷ”, và 7 trường đại học đã trao cho ông những tấm bằng danh dự.

Tuy nhiên, sự thành công mang tính hiện tượng đột phá trong lĩnh vực không gian điều khiển học này lại xuất phát từ sự tình cờ ngẫu nhiên. Thoạt đầu, Berners Lee chỉ muốn tìm một phương cách để tổ chức quản lý hồ sơ nghiên cứu của mình, và ông đã phát triển phần mềm Enquire, có chức năng tạo ra những mối liên kết hữu hiệu giữa những khối lượng thông tin khổng lồ, dần dà nó trở thành căn bản cho cuộc cách mạng web.

Percy Le  Bason Spencer là một vị anh hùng trong Chiến tranh thế giới lần thứ 2 vì công trạng phát triển ra máy radar. Ông đã có hơn 100 bằng sáng chế trong suốt cuộc đời của mình. Một ngày nọ, sau khi chiến tranh kết thúc, Spencer đang rảo bước qua phòng thí nghiệm của mình tại Công ty Raytheon (ở Massachusetts), thì dừng lại trước một thanh từ tính dùng để phát ra những vi sóng tần số cao trong radar. Một cảm giác thật kỳ lạ: viên kẹo trong túi áo khoác của ông đã bị tan chảy. Ngay lập tức, ông thử cho vài hạt bắp khô trước thanh từ tính, chẳng bao lâu, chúng biến thành những hạt bắp nổ xòe tung khắp nơi. Người khác có khi chỉ ghi nhận như một hiện tượng kỳ lạ nhưng Spencer thì khác  - ông đang nghĩ cách chế tạo lò viba!

Không chỉ các nhà khoa học mới được tận hưởng những khoảnh khắc may mắn đó. Hans Lippershey, một thợ chuyên làm mắt kính ở Hà Lan vào thế kỷ XVII, bỗng dưng nhìn vào 2 chiếc thấu kính và thấy vật thể ở đằng xa được phóng đại lên. Ông sắp xếp các thấu kính vào một chiếc ống tròn – thế là kính thiên văn ra đời! John Walker là một dược sĩ. Vào một ngày của năm 1826, ông dùng que trộn potassium chlorate với antimony sulphide, nhưng hỗn hợp này cứ dính chặt vào chiếc que. Walker cố gắng quệt bỏ nó vào thành lò sưởi bằng đá, thì đột nhiên nó lại phát lửa. John Walker đã sản xuất ngay lô diêm ma sát đầu tiên mang tên của mình.

Vào đầu thế kỷ XX, Frank Epperson chỉ là một cậu bé 11 tuổi. Một buổi tối lạnh lẽo nọ, khi đùa nghịch, cậu dùng que trộn bột soda với nước bôi lên chiếc cổng đằng sau nhà. Sáng hôm sau, Epperson thấy nước soda đã đông đặc quanh chiếc que. Nhưng phải gần 20 năm sau, Epperson mới hiểu ra rằng nếu pha thêm hương vị vào, ông sẽ có món giải khát mát lạnh. Cuối cùng, ông cũng nhận được tiền  tác quyền của hơn 60 triệu que kem.

Tuy nhiên, không phải lúc nào thần may mắn cũng gõ cửa ban tặng phát minh, kèm theo những tài sản rủng rỉnh có từ nó. Vào một ngày của năm 1839, Chartes Goodyear – một tay buôn bán ve chai ở Mỹ bị phá sản – đã lục tung căn nhà của mình. Ông đã kiên trì tìm cách chế tạo một chất liệu hữu ích từ cao su Brazil để tẩy xóa những chữ viết sai. Cục gôm lúc bấy giờ hay bị giòn khi gặp trời lạnh và nhão ra khi gặp trời nóng. Sau vô số lần thất bại trong việc trộn cao su với những hóa chất khác, lần này, ông đã thành công khi thử trộn cao su với lưu huỳnh, và vô tình để rơi một giọt hỗn hợp lên bếp lò nóng. Thỏi cao su ấy đã trở nên cứng rắn và dẻo dai hơn.

Charles Goodyear đã thực hiện lưu hóa cao su – một tiến trình xử lý, tạo cho cao su có nhiều công năng hữu ích, nhờ những tính năng về sức mạnh và sự đàn hồi của nó. Ngày nay, lưu hóa cao su được áp dụng để sản xuất nhiều mặt hàng, từ lốp xe hơi, cho đến banh chơi golf. Nhưng những điều đó chẳng giúp ích gì được cho Goodyear. Nhiều quyền sở hữu phát minh của ông liên tục bị xâm phạm. Khi qua đời vào năm 1860, ông còn mắc nợ gần 200.000 USD!

Đại văn hào Mark Twain có lần đã nói: “Con người với một ý tưởng  mới trong đầu vẫn chỉ là một tên khùng, trừ phi ý tưởng đó được thực hiện thành công”. Trong thực tế, một số phát minh có tầm quan trọng sâu xa trong lịch sử bị chối bỏ như là “sản phẩm của những tên khùng”. Máy photocopy Xerox là một ví dụ. Năm 1938, Cherter Carlson cảm thấy quá chán ngán với việc phải sao chép tư liệu bằng giấy carbon. Trong phòng thí nghiệm dã chiến của mình ở New York, ông đã nghĩ ra cách sao chép tự động và trình phát minh của mình lên Hãng IBM. IBM thì cho rằng chẳng ai thèm xài cái máy cồng kềnh như thế, so với những tờ carbon gọn nhẹ hơn. Tuy vậy, kỹ thuật sao chép tự động như Carlson tiếp tục cho ra hàng tỉ bản sao hằng năm.

Vào cuối những năm 60 của thế kỷ trước, nhà nghiên cứu Spence Silver của Công ty 3M đã gắng sức tạo ra một loại keo siêu dính, nhưng kết quả cho ra điều ngược lại – một loại keo chẳng chịu khô, mà vẫn có thể kết nối 2 mảnh giấy lại với nhau. Silver chẳng biết dùng nó để làm gì. Nhưng  5 năm sau, một đồng nghiệp của Silver là Art Fry đã bắt đầu dùng keo này để dán những mảnh giấy rời, làm thành tập hát thánh ca trong nhà thờ của anh ta. Và thêm 8 năm nữa thì tập giấy dán đã trở thành một “hiện tượng” phổ biến

Thuý Hân (theo Reader's Digest)
.
.
.