Lịch sử một thế kỷ của máy bay không người lái

Thứ Hai, 08/03/2010, 20:55
Vào năm 1910, trước những thành công đáng khích lệ của anh em nhà Wright, một kỹ sư trẻ tại Ohio là Charles Kettering đã đề xuất về ý tưởng chế tạo những thiết bị bay không có người lái (Unmanned Aerial Vehicle - UAV). Được trang bị một cơ cấu đồng hồ hẹn giờ, loại máy bay trên khi tới được một khu vực đã định sẽ tự thả cánh ra và lao xuống đất với vai trò một quả bom ném xuống đầu quân địch.

Sau khi nhận được sự ủng hộ và cung cấp tài chính từ quân đội Mỹ, viên kỹ sư trên đã thiết kế và thử nghiệm được một vài kiểu mẫu UAV ban đầu như The Kettering Aerial Torpedo, Kettering Bug v.v... Đó chính là dấu mốc đầu tiên trong lịch sử 100 năm của loại máy bay không người lái.

Sử dụng rộng rãi trong chiến tranh

Năm 1933, Anh chế tạo thành công chiếc UAV sử dụng nhiều lần đầu tiên có tên là Queen Bee có thể điều khiển từ xa bằng thiết bị vô tuyến. Tiếp theo đó, Hải quân Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã áp dụng công nghệ trên khi sử dụng những chiếc UAV làm thiết bị tấn công không đối đất khá hiệu quả.

Chẳng hạn như vào năm 1944, Hải quân Mỹ đã tấn công các căn cứ tàu ngầm của Đức bằng việc sử dụng hàng loạt các UAV điều khiển từ xa được phóng từ các máy bay B-17. Những thiết bị tương tự như trên bắt đầu xuất hiện phổ biến trong biên chế quân đội Mỹ từ cuối những năm 40 thế kỷ trước, ban đầu chủ yếu được sử dụng trong vai trò làm mục tiêu huấn luyện cho các hệ thống phòng không. Từ năm 1951, bắt đầu xuất hiện các UAV làm mục tiêu cho không quân và các máy bay do thám không người lái. 

Loại UAV đầu tiên được Mỹ sản xuất hàng loạt là họ máy bay Firebee của Hãng Teledyne Ryan. Trong giai đoạn từ năm 1948 đến 1995, những chiếc Firebee thuộc họ này được xuất xưởng khá nhiều với hàng loạt kiểu khác nhau dùng cho các mục đích như làm mục tiêu, do thám, phá sóng vô tuyến, làm vũ khí tấn công cũng như cả loại đa chức năng. 

Trong thời gian cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), Không quân Mỹ sử dụng những chiếc Firebee có camera kết hợp loại bom điều khiển vô tuyến Tarzan cho các phi vụ phá hủy hệ thống cầu đường tại nước này. Đầu những năm 60, sau vụ những chiếc máy bay do thám RB-47 và U-2 bị bắn rơi, Mỹ lại chế tạo loại máy bay do thám tầm cao không người lái Red Wagon nhằm mục đích giám sát các vụ thử tên lửa và vị trí các đơn vị tên lửa của Liên Xô.

Trong giai đoạn 1965-1973 của cuộc chiến Việt Nam, Không quân và Hải quân Mỹ sử dụng phổ biến các UAV Firebee có độ cao trung bình cho hoạt động trinh sát có thể cất cánh từ mặt đất hay phóng từ máy bay mẹ. Tính tổng cộng, quân Mỹ đã triển khai gần 3.400 chuyến bay của các UAV trên vùng không phận miền Bắc Việt Nam. Việc ứng dụng UAV trong cuộc chiến Việt Nam được đánh giá có hiệu quả tương đối cao, trong khi tỉ lệ tổn thất chỉ là 4%.

Máy bay không người lái của Liên Xô

Lịch sử phát triển UAV của Liên Xô được bắt đầu trong giai đoạn 1930-1940, khi chuyên gia thiết kế hàng không Nikitin cho ra đời loại máy bay phóng ngư lôi không người lái PSN-2. Ngay trước khi bắt đầu Cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, Liên Xô đã thử nghiệm khá thành công loại máy bay ném bom hạng nặng không người lái TB-3 với mục đích chuyên sử dụng phá hủy cầu. Tuy nhiên không hiểu vì lý do gì, phiên bản trên đã không được sản xuất hàng loạt và sử dụng trong chiến tranh. 

Một chiếc Mastiff của không quân Israel.

Bước tiến lớn trong lĩnh vực này của ngành công nghiệp quân sự Xôviết là vào sau những năm 60, mở đầu với sự ra đời của loại máy bay không người lái siêu thanh TU-123 có tầm hoạt động tới 4.000 km. Tiếp sau đó là một loạt các phiên bản hiện đại hơn như máy bay tác chiến TU-300, máy bay trinh sát TU-141, TU-143 - tất cả đều được sản xuất hàng loạt và trang bị cho không quân. Một trong những loại UAV trinh sát hiện đại nhất của Nga hiện nay là họ "Pchela" đã được sử dụng khá rộng rãi trong các chiến dịch chống khủng bố tại Bắc Kavkaz.

Sử dụng hàng loạt tại Trung Đông

Dù có lịch sử phát triển chậm hơn nhiều so với Mỹ và Liên Xô, nhưng Israel hiện lại được đánh giá là một quốc gia có trình độ cao hàng đầu thế giới về nghiên cứu và chế tạo UAV - tất cả đều bắt nguồn từ những nhu cầu cấp thiết và hiệu quả của loại trang thiết bị này đối với các hoạt động tác chiến thường xuyên của quân đội Israel. Ban đầu, Israel đã đặt mua trực tiếp từ Hãng Teledyne Ryan một lô 12 chiếc Firebee 124I. Ngay lập tức, những chiếc UAV đã thể hiện được hiệu quả rất cao của mình trong cuộc chiến giữa Israel và các nước Arập trong vai trò những thiết bị do thám và đóng vai các mục tiêu giả trên không.

Song song với việc mua máy bay của Mỹ, Israel cũng đầu tư cho việc nghiên cứu và chế tạo UAV của riêng mình. Cụ thể là từ năm 1975, Hãng Tadiran đã tung ra loại Mastiff, trước khi được công luận rộng rãi biết đến vào năm 1978. Tiếp đó, Hãng IAI theo đơn đặt hàng của Không quân Israel đã cho ra đời loại UAV Scout, bắt đầu sử dụng cho các phi vụ do thám tại Liban từ năm 1982.

Với sự tham gia hỗ trợ hiệu quả của các UAV, Không quân Israel đã đạt được những thành công hết sức ấn tượng - hệ thống phòng không của Syrie tại Liban gần như hoàn toàn bị loại khỏi vòng chiến với tổn thất 18 đơn vị pháo cùng 86 máy bay chiến đấu các loại. Nguyên nhân thành công được các chuyên gia đánh giá từ chiến thuật mới của Không quân Israel - đó là sử dụng các UAV trang bị camera để dẫn đường cho tên lửa tấn công các mục tiêu.

Từ thời điểm này, nhiều nhà phân tích đã dự đoán các UAV sẽ là những ông vua hoàn toàn thống trị bầu trời trong những cuộc chiến tương lai. Việc Mỹ sử dụng rộng rãi các UAV trong cuộc chiến chống khủng bố tại AfghanistanPakistan đã phần nào minh chứng cho nhận định trên

Quỳnh Lai (tổng hợp)
.
.
.