Nữ điệp viên CIA bị chính phủ “chơi xấu”
Vụ bê bối “Plamegate” - việc nữ điệp viên kỳ cựu của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) Valerie Plame bị tiết lộ danh tính vẫn gây ra dư luận ầm ĩ trong nhiều năm qua, đến nay vẫn gây ra mối bất hòa sâu sắc giữa CIA và Nhà Trắng.
Từ yêu cầu bất thường của Phó tổng thống
Tháng 2/2002, Valerie Plame Wilson, nữ điệp viên xinh đẹp của xứ cờ hoa đang ngồi tại phòng làm việc ở trụ sở CIA thì nhận được một cuộc điện mật gọi đến từ văn phòng Phó tổng thống Dick Cheney. Họ đưa ra một báo cáo tình báo của Italia cho rằng Iraq đã tìm cách mua 500 tấn oxit urani cô đặc (còn gọi là yellowcake – bánh vàng) để chế tạo bom hạt nhân từ Niger vào năm 1999 và họ muốn CIA mở cuộc điều tra.
Những yêu cầu như trên thường thông qua các kênh khác nhau và việc chỉ đạo trực tiếp như thế này là hiếm có. Nhưng chính điều này lại hấp dẫn Plame. Cô cho rằng mình nên nhận nhiệm vụ này. Đó là một sự lựa chọn hợp lý bởi chồng cô, ông Joe Wilson là cựu đại sứ tại Niger và là chuyên gia trong các vấn đề về châu Phi. Ông cũng từng được điều tới Niger năm 1999 để xem xét các vấn đề về urani. Plame liên lạc với chồng và một ngày sau bà gửi email lên sếp.
Và nhiệm vụ tối mật này được giao cho ông Wilson.
Một vài ngày sau cuộc họp đầu tiên với CIA, Joe Wilson lên máy bay tới Niamey, Niger và ở lại đó trong 8 ngày. Trong chuyến đi, Wilson đã gặp gỡ nhiều đầu mối liên lạc, trong đó phải kể tới Đại sứ Owens Kirkpatrick, người đã ở Niger 2 năm. Cô lập tức liên hệ với Tổng thống Tandja và cùng Marine General Carelton Fulford điều tra về thỏa thuận mua bán uranium. Bản thân Wilson cũng gặp gỡ những doanh nhân Niger, công nhân và nhân viên chính phủ để nắm rõ những quy định gắt gao về ngành công nghiệp khai thác uranium của nước này. Tất cả đều khẳng định những cáo buộc đó là vô căn cứ.
Sau khi kết thúc chuyến đi, Wilson đã kết luận rằng việc mua uranium của Saddam là không có thật. Các tài liệu liên quan đến vụ mua bán về sau đều được xác nhận là giả mạo.
Đến thông điệp liên bang gây tranh cãi
Ngày 28/1/2003, tổng thống Mỹ George W. Bush ăn vận giản dị đã có bài phát biểu thông điệp liên bang lần thứ hai kéo dài một tiếng đồng hồ với tư cách là tổng thống.
Nhiều người kỳ vọng vào bài phát biểu này bởi nó sẽ quyết định việc Mỹ có tham chiến tại chiến trường Iraq hay không. Trong suốt nhiều tháng qua, đảng Cộng hòa luôn ủng hộ kêu gọi Mỹ tham chiến bởi họ nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của chính quyền Taliban tại Afghanistan sau vụ khủng bố 11-9. Đó cũng là cơ hội để mở rộng cuộc chiến chống khủng bố tiêu diệt chế độ của Saddam Hussein tại Iraq. Phe đối lập lập luận rằng, các quan chức dường như hy vọng sẽ thuyết phục được người dân Mỹ rằng Saddam và Osama Bin Laden đang lên kế hoạch nào đó, có khả năng nước Mỹ sẽ vướng vào vết xe đổ của cuộc chiến ở Trung Đông.
Áp lực được đặt ra cho Tổng thống Bush là không nhỏ khi ông phải tham dự không phải một mà những hai buổi tổng duyệt, một vào thứ sáu, buổi còn lại vào chủ nhật. Trong cả hai buổi tổng duyệt diễn ra tại câu lạc bộ hạng sang Alfalfa, Tổng thống Bush phải khiến bố mẹ mình – cựu Tổng thống Mỹ George Bush và đệ nhất phu nhân Barbara Bush hài lòng.
Sự tham dự của nhiều quan chức cấp cao trong nội các Mỹ cùng những người thân cận như Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Condoleeza Rice, Tham mưu trưởng Andrew Card, Chánh văn phòng Nhà Trắng Karen Hughes không khiến Tổng thống Bush nao núng, lo toan mà trái lại, ông hết sức điềm tĩnh trong suốt buổi tổng duyệt.
Đứng trên bục phát biểu hôm đó, trước người vợ dấu yêu Laura Bush cùng lực lượng không quân dự bị Maureen Allen, tổng thống Bush không thể ngờ rằng, mình có thể gây nên một cơn bão truyền thông chỉ với vỏn vẹn 16 chữ.
![]() |
Trong bài phát biểu Thông điệp liên bang gần 46 phút của mình, tổng thống đã đề cập đến những vấn đề quan trọng như cắt giảm thuế, giúp đỡ các nạn nhân trong đại dịch AIDS ở châu Phi, cải thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người dân Mỹ. Đặc biệt, khi đi sâu vào mối quan tâm Iraq và Saddam Husein, ông khẳng định:
“Chính phủ Anh biết được Saddam Hussein gần đây đã mua một lượng uranium đáng kể từ châu Phi”.
Chỉ một câu nói này đã gây ra bê bối chính trị sâu sắc, phương hại cả một gia đình và gây tổn hại lớn tới cuộc chiến tại Iraq.
Khởi đầu của những bất ổn
Tối hôm đó, cựu Đại sứ Mỹ Joe Wilson xem bài phát biểu từ một phòng thu của kênh truyền hình Canada tại D.C. Khi tổng thống nói về vấn đề Iraq, ông chăm chú lắng nghe, nhất là đoạn về uranium, ông cảm thấy không ổn. Hôm sau, Wilson gọi điện cho đồng nghiệp tại Bộ Ngoại giao, người đó nói rằng tổng thống ám chỉ một quốc gia châu Phi khác chứ không phải Niger. Bởi 12 tháng trước, Wilson đã tới Niger để tìm hiểu và ông đã đưa ra kết luận rằng mối liên hệ giữa Iraq và Niger là không có cơ sở.
Điều kỳ lạ là văn phòng tổng thống phải nắm rõ các thông tin này. Wilson đã được cử tới Niger để điều tra. Đó là điều dễ hiểu bởi ông từng làm việc ở Niger với tư cách một nhà ngoại giao, là nhà ngoại giao cuối cùng của Mỹ gặp Tổng thống Iraq Saddam Hussein trước khi Tổng thống G.H. Bush (Bush cha) giải phóng Kuwait trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991. Và trên hết, vợ ông chính là điệp viên CIA kỳ cựu: Valerie Plame Wilson.
Cuộc chiến truyền thông
Ngày 6/7/2003, Joe Wilson công khai cáo buộc chính quyền đã bắt chẹt CIA nhằm bóp méo thông tin và phóng đại mối đe dọa Iraq để dọn đường cho việc tiến hành một cuộc chiến tranh “chính nghĩa”.
Bài báo với hàng tít lớn: “Những gì tôi đã không tìm kiếm ở châu Phi” xuất hiện trên tờ New York Times mở màn cho cơn bão tố chính trị kèm theo những đòn tấn công vào danh dự của ông. Độc giả không mất nhiều thời gian để tìm kiếm, ngay từ đoạn đầu, Wilson viết: “Có phải chính quyền Bush đã thao túng những hoạt động tình báo về chương trình vũ khí của Saddam Hussein nhằm biện minh cho một cuộc xâm lược Iraq?”.
Ông giải thích: “Do cấu trúc hoạt động của các tập đoàn mỏ, rất khó để Niger chuyển urani tới Iraq. Ngành công nghiệp urani ở Niger bao gồm hai mỏ chính: Somair và Cominak do Pháp, Tây Ban Nha, Nhật, Đức và Nigeria điều hành lấy lợi nhuận. Nếu chính phủ nước này muốn chuyển urani ra khỏi mỏ, họ sẽ phải thông báo cho các bên điều hành và sẽ chịu sự giám sát chặt chẽ của IAEA. Thêm vào đó, hai mỏ này được điều hành sát sao, các tổ chức bán chính phủ muốn bán uranium phải có sự đồng ý của bộ trưởng năng lượng, thủ tướng và có thể cả tổng thống. Tóm lại, các mỏ này được quản lý chặt chẽ”.
Ông kết thúc bài báo bằng lời giả định: “Nếu như những thông tin này bị Nhà Trắng phớt lờ bởi nó không phù hợp với định kiến vốn có về Iraq, thì có thể hiểu rằng, chúng ta đang tham chiến vì những luận điệu giả tạo”. Câu nói này đã giáng một đòn trực tiếp vào chính phủ Mỹ.
Nhà Trắng cũng không lãng phí chút thời gian nào để đáp trả.
Tám ngày sau bài báo trên tờ New York Times của Wilson, nhà báo chuyên mục bình luận với khuynh hướng bảo thủ Robert Novak đã đăng tải bài báo của mình trên tờ Washington Post với tựa đề “Sứ mệnh tới Niger”, trong đó tiết lộ mối quan hệ của gia đình Joe Wilson với Cơ quan tình báo trung ương Mỹ và xác nhận danh tính của nữ điệp viên Valerie Plame. Bài báo có đoạn viết:
“Vợ của Wilson, cô Valerie Plame là điệp viên chống thủ đắc vũ khí hủy diệt hàng loạt. Hai cấp trên của tôi cho biết, chính vợ Wilson đã đề cử ông ta đến Niger điều tra báo cáo của phía Italia”.
Chỉ một dòng chữ kể trên đã làm lộ danh tính của nữ điệp viên Valerie Plame. Bài báo cũng đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp tình báo của nữ điệp viên tài sắc vẹn toàn này.
Nữ điệp viên khả ái
Valerie Plame, con gái của Diane và Samuel Plame, sinh ngày 19/4/1963 trong một gia đình quân nhân tại căn cứ không quân Elmendorf tại Anchorage, Alaska. Anh bà phục vụ trong lực lượng hải quân, còn cha bà làm việc cho lực lượng không quân Hoa Kỳ và làm việc cho NSA (Cơ quan an ninh quốc gia) trong 3 năm.
Lớn lên tại vùng Pennsylvania, Plame tốt nghiệp trường trung học năm 1981 và theo học chuyên ngành quảng cáo tại Đại học Pennsylvania State. Tại đây, bà chứng tỏ tố chất nổi bật của mình trong các môn thể thao.
Một buổi sáng năm 1985, năm Plame tốt nghiệp, mẹ của bà đọc được mẩu quảng cáo tuyển dụng của CIA. Bà đã gửi luôn mẩu tin cho con gái. Lúc đó, Plame vẫn chưa quyết định được công việc tương lai của mình và cô quyết định thử sức tại CIA.
Sau khi vượt qua bài phỏng vấn ban đầu và xác minh lý lịch, Plame được gửi tới trại Peary (hay Trang trại – The Farm) ở Williamsburg nơi đào tạo và huấn luyện điệp viên của CIA.
Trong trại huấn luyện, Plame và các bạn đồng môn tay cầm khẩu M16, vai đeo 80 pounds cố gắng tìm lối thoát khỏi bãi mìn. Các bài kiểm tra thần kinh còn mệt mỏi hơn rất nhiều.
Cuối cùng, cô gái trẻ tuổi cũng hoàn thành xuất sắc khóa huấn luyện.
Nhiệm vụ đầu tiên của cô diễn ra ở Athens, Hi Lạp. Ở đây, cô phải cố gắng trà trộn vào nơi này. Điều này đồng nghĩa với việc phải uống hàng tá cà phê, hút thuốc lá hạng nặng và ngồi hàng giờ đồng hồ trong quán cà phê đầy khói thuốc. Nữ điệp viên cố trung lập hóa nhóm khủng bố đã sát hại Đại úy William Nordeen một năm trước đó, trước khi Plame tới Hi Lạp.
Sau nhiệm vụ ở Hi Lạp, Plame trở về trụ sở chính ở Langley. Cô được cử tới học tại Trường Kinh tế London và Học viện châu Âu ở Bỉ. Tại đây, cô xuất sắc đạt bằng thạc sĩ về quan hệ quốc tế và nghiên cứu châu Âu.
Sau đó, cô được cử đi làm nhiệm vụ điệp viên NOC – chương trình gián điệp không sử dụng vỏ bọc ngoại giao. Đồng nghĩa với việc nguy hiểm với cô sẽ tăng lên gấp bội khi không được bảo vệ bởi quyền miễn trừ ngoại giao. Cô thật sự là một nữ “James Bond” thực thụ, với cả một mạng lưới cộng tác viên trên toàn thế giới, và luôn đi lại bằng giấy tờ giả là một nhà doanh nghiệp, không thông qua vỏ bọc ngoại giao để truy lùng vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Những chuyến đi công vụ cũng làm nên mối nhân duyên giữa Plame và Joe Wilson. Cô gặp gỡ Wilson trong một chuyến công tác và trở thành vợ thứ ba của ông. Wilson kể rằng buổi gặp đầu tiên của hai người vào năm 1997 tại buổi tiệc chiêu đãi tại nhà Đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ tại Washington. Ông yêu cô từ cái nhìn đầu tiên. Ông miêu tả cô là một quý cô cao ráo khiến ông nhớ đến Grace Kelly. Họ nhìn nhau và ông mỉm cười với cô. Họ nói chuyện thâu đêm. Hôm sau họ gặp lại nhau tại buổi lễ trao giải. Tối hôm đó, Plame đưa cho ông danh thiếp và nói rằng mình làm việc cho công ty năng lượng có trụ sở tại Bỉ.
Qua nhiều lần gặp gỡ, Plame quyết định tiết lộ bí mật của mình, về công việc của mình.
Từ đó, họ thành đôi và chuyển đến căn hộ Watergate không lâu sau đó. Sau khi ly dị người vợ thứ hai vào năm 1998, Wilson nghỉ hưu và chuyển sang làm tư vấn quản lý. Còn Plame được chuyển lên làm tại trụ sở CIA.
Nói cách khác, Plame đã chiến đấu trong cuộc chiến chống khủng bố từ trước khi George W. Bush đắc cử. Điều này khiến việc bại lộ thân phận của cô càng hi hữu.
![]() |
| Valerie rạng rỡ bên chồng Joe Wilson. |
Bản báo cáo của SSCI
Đầu tháng 10/2003, một hội đồng nghị sĩ được tuyển chọn về vấn đề tình báo (SSCI) thông báo rằng họ sẽ mở cuộc điều trần về việc lộ thông tin. Cơ quan điều tra này được thành lập sau vụ Watergate năm 1975 để giám sát toàn bộ hoạt động tình báo của Mỹ.
Ngày 7/7/2004, gần một năm sau khi bài báo của Wilson được phát hành, SSCI ra thông báo kết quả điều tra. Bài báo cáo cho biết Plame đã khuyên chồng mình tới Niger. Trong đó có kèm theo một văn bản có tựa “Những quan điểm bổ sung”. Ở đây, các thượng nghị sĩ có thể theo đuổi những quan điểm cá nhân. Một thượng nghị sĩ của đảng Cộng hòa còn viết: “Hội đồng đã phát hiện những bằng chứng đáng tin cậy về thỏa thuận mua bán uranium giữa Niger và Iraq trong phần lớn các số liệu thu thập được trong báo cáo của đại sứ tiền nhiệm”.
Báo chí ngay lập tức đưa tin. Tờ Washington Post đi sâu vào vai trò của Plame và những phát biểu trước đó của Wilson về mục đích chuyến đi tới Niger. Tờ Wall Street Journal sử dụng báo cáo của SSCI với tựa đề: “Sự kháng cự của Wilson: Tại sao vụ đâm đơn khởi kiện của Plame nên được dừng lại”.
Cố vấn an ninh quốc gia Condoleeza Rice khẳng định thông tin của Wilson đến từ chỉ một nguồn nên không đáng tin cậy.
Nhà Wilson biết rõ rằng, bài báo của Novak chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Cuộc phản công truyền thông mới chỉ bắt đầu.
Cặp đôi giờ đây tự mình chống trả lại vũ bão truyền thông. Wilson cũng xuất bản cuốn sách: “Chính trị sự thật”, nói về scandal của vợ mình, việc bị tiết lộ danh tính và sự nghiệp ngoại giao của mình.
Mặc cho những nỗ lực của Wilson, Plame vẫn nằm trong tâm điểm của truyền thông. Những bài báo về Plame vẫn xuất hiện đều trên các mặt báo. Joe Wilson vẫn cương quyết không bỏ cuộc. Ông vẫn liên tục tấn công tòa bạch ốc để đòi lại công bằng cho vợ mình.
Cuối cùng những nỗ lực không ngừng nghỉ của ông cũng được đền đáp khi FBI mở cuộc điều tra sự việc.
Vén bức màn bí mật
Tháng 12/2003, công tố viên Patrick Fitzgerald được chọn để lãnh đạo cuộc điều tra, ông được giới thiệu tại Bộ Tư pháp là “một Eliot Ness” (người chống tội phạm nổi tiếng trong lịch sử Mỹ), có tiếng là một công tố viên khiến người khác phải sợ hãi và công minh.
Công tố viên của Bộ Tư pháp Patrick Fitzgerald tập trung điều tra theo hướng những cáo buộc do nhà báo David Corn của tờ The Nation đặt ra rằng phải chăng luật pháp Mỹ thực sự đã bị các quan chức Nhà Trắng chà đạp khi công khai tiết lộ danh tính điệp viên.
Fitzgerald nhắm mục tiêu vào hai nhà báo từ chối cung cấp nguồn tin của họ: Đó là Judith Miller của tờ The New York Times, người đã viết rất nhiều bài báo ủng hộ lập trường của chính quyền Tổng thống Bush và Matt Cooper ở tạp chí Time. Cả hai đều đối mặt với nguy cơ ngồi tù sau khi đơn kháng cáo của họ bị tòa bác bỏ vào tháng 6/2005.
Rốt cuộc, chỉ Miller phải nếm trải mùi nhà đá. Bị kết án 6 tháng vì tội kinh thường tòa án, nữ phóng viên từng quyết tâm ngồi tù chứ không chịu tiết lộ danh tính nguồn tin này rốt cuộc đã công khai sự thật. Người cung cấp cái tên Valerie Plame cho Miller không phải ai khác mà chính là Chánh văn phòng Phó Tổng thống Mỹ Irve Lewis "Scooter" Libby.
Tháng 12, luật sư John Ashcroft kháng nghị rút tên khỏi cuộc điều tra của Bộ tư pháp.
Chiến thuật của chính phủ
Đến ngày 10/7/2005, gần hai năm sau bài báo gây chấn động của Wilson trên tờ New York Times, phóng viên Michael Isikoff của tạp chí Newsweek đã phát hiện người cung cấp thông tin cho phóng viên Matt Cooper là Phó Chánh văn phòng Nhà Trắng Karl Rove. Vì vậy, không mấy ngạc nhiên khi ngay từ đầu Rove đã không dành những lời nói tốt đẹp cho Wilson.
Giới truyền thông lại ngay lập tức tràn ngập thông tin về vụ bê bối này, nhưng lần này là ủng hộ nhà Wilson.
Ngày 28/10, Fitzgerald tổ chức họp báo. Theo đó, Libby chính thức bị kết tội cản trở luật pháp, khai man về câu chuyện giữa ông ta với các nhà báo về Plame và Wilson. Gần như ngay lập tức, Libby từ chức. Đến tháng 3/2007, toà án Mỹ tuyên phạt Libby 250 nghìn USD, 30 tháng tù giam và 2 năm tù treo - mức hình phạt mà Tổng thống Bush đã bình luận là “thái quá”, dù vị cố vấn Phó Tổng thống đã thoát tội tiết lộ danh tính của Plame.
Rốt cuộc, người cung cấp danh tính của Plame cho nhà báo Novak trong bài viết khởi đầu cho vụ bê bối cũng đã được phát giác vào năm 2006. Lần này là Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Richard Armitage, chứ không phải Libby hay Rove. Song, Arrmitage không bị cáo buộc tội danh nào do ông này hoàn toàn không biết về lớp vỏ bọc ngụy trang của Plame cũng như bản chất tối mật trong công việc của cô.
Không thoả mãn với kết quả này, Plame và chồng mình đã nhiều lần phát đơn kiện dân sự đối với Rove, Libby, Phó Tổng thống Cheney và nhiều quan chức Nhà Trắng khác, song không thành công. Và 8 năm sau khi George Bush phát biểu 16 từ gây tranh cãi để lấy cớ phát động cuộc xâm lược Iraq, người ta vẫn chưa hề tìm thấy số vũ khí huỷ diệt hàng loạt đáng kể nào tại đây.
Cuốn sách được ra đời
Giữa năm 2004, nhà Wilsons bị bủa vây. Cuộc hôn nhân của họ cũng phải trải qua vô vàn sóng gió. Khi đó, Wilson có quyền tự do ngôn luận và đứng ra chống lại chính phủ, vợ của ông lại bị cấm đoán bởi Plame vẫn còn nằm trong hàng ngũ CIA.
Plame bị cấm đến tổng hành dinh CIA tại Langley, không được phép tiếp xúc với đồng nghiệp. Cũng không thể liên lạc với các cộng tác viên ở nước ngoài.Cô trở lại phòng làm việc vào tháng 5 năm 2005 và đưa đơn xin từ chức. Tháng 1/2006, Plame quyết định kể lại câu chuyện hi hữu của mình và kí hợp đồng viết sách với Simon & Schuster. Cô nhanh chóng nhận ra mọi thứ không dễ dàng như cô tưởng. Mặc dù câu chuyện của cô đã được đăng tải công khai nhưng không ít cũng đã bị CIA kiểm duyệt và cắt bỏ khá nhiều.
Năm 2007, sau 4 năm bị vạch trần vai trò điệp viên CIA trên những tờ báo hàng đầu nước Mỹ, Valerie Plame ra mắt cuốn hồi ký có tiêu đề “Fair Game: My Life as a Spy, My Betrayal by the White House” (Cuộc chơi công bằng: Cuộc đời điệp viên của tôi và sự phản bội của Nhà Trắng)
Cuối cùng, cuộc chiến chống lại Nhà Trắng của Don Quichote thời hiện đại đã tạm khép lại với cái kết có hậu cho nạn nhân của mối bất hòa giữa CIA và Nhà Trắng khi Phó tổng thống Dick Cheney bị thẩm phán Reggie B. Walton kết án 30 tháng tù giam, phạt tiền 250.000 USD, 400 giờ lao động công ích và 2 năm quản chế, vào tháng 6/2007. Ngày 3/11/2010, Hollywood cũng đã phát hành bộ phim “Luật chơi công bằng” kể lại chuyện Nhà Trắng tiết lộ thân thế nữ điệp viên CIA này


