Chiêu đập tan nhuệ khí kẻ thù của siêu nữ điệp viên

Thứ Năm, 06/06/2013, 15:03
Trong suốt thời kỳ Đại chiến thế giới lần II, Phòng đặc vụ chiến lược (OSS)— tiền thân của Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA) ngày nay đã thực hiện chiến dịch tuyên truyền “đen” hay còn gọi tuyên truyền chống phá hòng đập tan nhuệ khí của kẻ địch. Và, nhánh phụ trách chiến dịch nhuệ khí (MO) đã kiến tạo nên chiến dịch đó. Barbara Lauwers, một lính Mỹ sáng tạo trong chương trình MO đã góp phần đẩy mạnh chương trình nhằm đập tan tinh thần của kẻ địch. Bà đã tham gia vào nhiều đặc vụ thành công trong suốt 2 năm phục vụ trong OSS.

Từ luật sư đến một người ái quốc

Barbara Lauwers sinh năm 1914 tại Božena Hauserová, sau này là Czechoslovakia. Bà là một phụ nữ thông minh, theo học ngành luật tại trường Đại học Masaryk ở Brno. Sau khi nhận bằng tiến sĩ luật, bà hành nghề luật sư. Lauwers kết hôn sớm và chuyển tới sinh sống tại Mỹ cùng với chồng năm 1941. Sau sự kiện Nhật tấn công Trân Châu Cảng, chồng của Lauwer gia nhập quân đội Mỹ. Năm 1943, Lauwers cũng gia nhập quân đội theo chồng.

Vào ngày 1/6/1943, Lauwers trở thành công dân Mỹ. Chỉ vài giờ sau, bà gia nhập quân đội và được điều chuyển tới Florida huấn luyện. Sau khi hoàn thành các khóa huấn luyện cơ bản, bà tới trường nữ quân nhân tại Georgia. Chính tại đó, bà được điều phục vụ trong lực lượng mật vụ Mỹ. Lauwers và 2 người phụ nữ khác ngay lập tức được cử tới Washington, D.C.

Lauwers nhớ lại: “Chỉ khi đặt chân tới Washington chúng tôi mới được thông báo là chúng tôi được giao nhiệm vụ phục vụ trong lực lượng OSS. Ngay lập tức chúng tôi trải qua một quá trình đào tạo khá nặng – làm việc và giữ im lặng, suy nghĩ về công việc của riêng mình, không hỏi bất kỳ câu hỏi nào, luôn sẵn sàng 24/24 và thậm chí 7 ngày một tuần”. Và sau khoá huấn luyện này, đích đến đầu tiên ở ngoại quốc của Lauwers là thành phố Algiers, Algeria.

Sau khi quân đồng minh tiến vào Rome, Italia ngày 5/6/1944, Lauwers được điều chuyển tới Italia. Chính ở đó bà tham gia vào Chiến dịch Sauerkraut. Vào mùa hè năm 1944, Count Claus von Stauffenberg và một số quan chức quân sự vỡ mộng của Đức thực hiện âm mưu ám sát Hitler. Chỉ vài giờ sau, nỗ lực ám sát thất bại và Đơn vị MO khởi sướng ra Chiến dịch Sauerkraut với nhiệm vụ làm lung lạc nhuệ khí của binh lính Đức bằng cách lưu truyền những tin đồn thổi, những lệnh giả và truyền đơn để gây bất ổn trong hàng ngũ lãnh đạo quân đội Đức.

Sau vụ ám sát bất thành, Lauwers lên một chiếc xe jeep hướng tới một trại tù binh ở Naples. Vai trò của Lauwers là phỏng vấn tù binh Đức, lựa chọn ra một “nhím” để đột nhập vào các trận tuyến, thực hiện chiến dịch tuyên truyền. Bà được lựa chọn thẩm vấn tù binh Đức bởi đơn giản bà thông thạo tiếng Đức, Anh, Séc, Slovak, và Pháp. “Khi tôi phỏng vấn các tù binh, tôi tìm kiếm những người bất đồng với quân đội Đức, những người sẵn sàng vào trận tuyến và thực hiện chiến dịch tuyên truyền”, Lauwers cho biết. Lauwers đảm trách việc làm chứng minh thư mới cho các tù binh mà bà chọn ra, làm việc với họ để ghi nhớ tất cả các câu chuyện của họ.

Bốn ngày sau khi bắt đầu thực hiện chiến dịch, các tù nhân Đức đã sẵn sàng làm nhiệm vụ. Các tù binh mặc quân phục lính Đức, đeo phù hiệu thích hợp, và được cấp giấy chứng minh giả, súng, đạn và các nhu yếu phẩm khác. Các tù binh được lệnh đóng đinh các tài liệu tuyên truyền lên cây, bỏ chúng vào các tòa nhà, hoặc rải trên các đường phố.

Sự kỳ diệu của chiến dịch

Lauwers miễn cưỡng mở cửa căn hộ nhỏ nhắn của mình ở tây bắc Washington, DC. Một người đàn ông tráng kiện, má đỏ đứng đó mỉm cười, bất ngờ quỳ xuống và lắp bắp: “Zuzka, thiên thần của anh”. Và rồi, ông hôn lên bàn tay vừa đưa ra của bà. Bà đã ngóng đợi cuộc đoàn tụ không thể tin nổi này trong suốt nhiều tháng qua, kể từ khi nhận được câu hỏi từ Will Williams liệu có phải bà là cô gái người Czechoslovakia có tên Zuzka thuộc lực lượng OSS ở Rome, Siena… Italia trong giai đoạn 1944-1945 hay không. Ông đã tìm bà thông qua văn phòng cựu binh OSS ở thành phố New York.

Họ đã từng gặp nhau vào năm 1944 tại trại tù binh Đức ở Averso, Italia. Bà giới thiệu là Barbara Lauwers và nói lưu loát tiếng Đức. Ông là một trong số 18 tù binh Đức được bà thẩm vấn – một thanh niên 24 tuổi người Berlin bị bắt ngày 4/6/1944 tại Rome.

Barbara Lauwers.

Trong căn hộ nhỏ nhắn, bên bàn ăn, họ trở về quá khứ. Lauwers bắt đầu: “Nghĩ này Williams, nếu những sĩ quan Đức đó không cố ám sát Hitler năm 1944 thì có lẽ chúng ta cũng không gặp nhau”. Bởi cả hai đều đóng vai trò hết sức quan trọng trong chiến dịch Sauerkraut. Lauwers nhớ lại, hầu hết những tù binh mà bà thẩm vấn đều rất trẻ. Một số là những người bất đồng quan điểm khi chứng kiến cảnh chém giết đổ máu trên các chiến trường ở Nga, nơi cỗ máy chiến tranh của Hitler vừa bị đánh bật. Một số nằm trong những tiểu đoàn bị cưỡng bức lao động, họ rất căm ghét Đế chế Đức. Đa phần họ là những người đảo ngũ.

Một tù binh từng là sinh viên đại học đã nói với bà rằng, anh đã tận mắt chứng kiến những hành động dã man nhằm vào dân thường. Anh từng chứng kiến chúng đốt cả một làng, 300 con người bị biến thành tro bụi. Anh là một tín đồ Cơ đốc nên không thể bỏ qua được những thảm kịch đó… Sau khi thẩm vấn xong, Lauwers ra quyết định chọn ai, và những tù binh này được lệnh lên một chiếc xe tải đi huấn luyện thêm ở vùng ngoại ô Rome. Hai đặc vụ OSS đi cùng với họ, Lauwers và Dewart theo sau trên một chiếc xe jeep. Lauwers nhớ lại: “Cuộc hành trình đi qua những vùng rất hoang vắng, không một bóng người. Nếu tù binh muốn chạy trốn, họ có thể dễ dàng vượt qua lính gác và chạy biến xuống chân đồi. Nhưng, họ đều ngồi nghiêm túc trên xe, thậm chí một vài người còn hát”.

Tất cả các tù binh trú trong một biệt thự hai tầng mái ngói nằm khuất dưới những tán cây và tường đá cao ở ngoại ô thành Rome. Ở đó, họ làm việc cùng Lauwers, luyện nhớ những câu chuyện mặt nạ của từng người. Lauwers làm cho mỗi người một chứng minh thư mới dựa trên những báo cáo tình báo của nhóm phân tích và nghiên cứu OSS gửi cho bà. Nhân viên tác chiến OSS phải thường xuyên cập nhật những chi tiết quan trọng như phù hiệu, quân phục… vì một đơn vị quân đội Đức có thể thay đổi phù hiệu trên cầu vai từ một hình viên kim cương đỏ sang một kim cương đỏ nằm trong một hình kim cương đỏ lớn. Những chi tiết như vậy rất quan trọng trong quá trình chuẩn bị vỏ bọc. Tất cả phải được những tù binh ghi nhớ trong tiềm thức. Họ có thể bị gọi dậy giữa đêm khuya để hỏi về nhân thân và cấp bậc mới.

Trong số những tù binh đó có Will Williams, một nghệ sĩ từng tốt nghiệp Viện nghệ thuật Dusseldorf và mới chỉ có 6 tháng thâm niên trong quân đội Đức đóng tại Kiel. Lauwers đã sớm phát hiện ra năng khiếu vẽ và làm giả chữ ký của Williams và thực tế chứng minh Williams đã hỗ trợ đắc lực trong việc làm những ủy nhiệm thư giả.

Không đầy 4 ngày sau khi chiến dịch Sauerkraut được định hình, nhóm tù binh Đức đầu tiên đã sẵn sàng đột nhập vào các chiến tuyến. Họ đi theo 2 đợt, đợt thứ nhất vào lúc nửa đêm, và đợt sau vào hồi rạng sáng. Họ được các đặc vụ OSS dẫn tới khu vực phi quân sự ở điểm bên bờ sông Arno, sau đó phải vượt sông một mình, đột nhập vào vùng chiến sự càng xa càng tốt. Họ được lệnh phải gim các tờ rơi, tuyên bố trên cây, bỏ vào xe tải, tòa nhà, rải trên đường phố tại các thị tứ nhỏ ở Italia nơi quân Đức đang đóng quân. Trong trường hợp bị bắt gặp, họ sẽ nói là những binh sĩ đang cố gắng tìm đơn vị, họ được giao nhiệm vụ đặc biệt và đang tìm đường trở về đơn vị, họ đã trở về nơi họ xuất phát nhưng đơn vị lại được điều chuyển đi nơi khác.

Tất cả các tù binh Đức nói trên đều được cấp giấy tùy thân và thông hành giả, cùng một khẩu súng lục Beretta, một khẩu súng trường Đức kèm 40 băng đạn, ngoài ra còn có la bàn, đồng hồ Italia hoặc Thụy Sĩ, 3.000 tờ tuyên truyền của MO… và khoảng từ 2.300 đến 7000 lia Italia. Họ đội mũ sắt, mặc quân phục lính Đức, đồ sơ cứu, và một thứ tối quan trọng – thuốc lá Italia.

Khi Williams tiến vào một thị trấn nhỏ, lính canh áp tới hỏi mật khẩu. Mật khẩu nào? Nó lại đổi à? Tôi vừa đào hào cả ngày. Khi người lính gác có phần lưỡng lự, Williams rút bao thuốc ra, mời anh ta một điếu và người lính gác mừng rỡ nhận lấy. Williams đột nhập sâu cách chiến tuyến khoảng hơn 3km, sau đó đứng xem một đội 8 lính tuần tra SS nhặt lên đọc những tờ rơi mà ông vừa rải giữa chợ.

Barbara Lauwers trong 1 buổi nhận nhiệm vụ.

Williams trở về phần giới tuyến của quân đội Mỹ, sau khi tháo vũ khí, hai tay giơ lên đầu và hô to mật khẩu để sau đó cùng những tù binh khác trở về Rome: “Đưa tôi tới Tổng tư lệnh”. Tất cả 16 tù binh đã trở về an toàn, không hề hấn gì. Cũng giống như Williams, họ đều đột nhập vào khu vực lính Đức kiểm soát một cách dễ dàng, rải truyền đơn êm thấm. Trên các trận tuyến ở Italia, lính Đức truyền tay nhau tài liệu vốn nhằm mục đích tạo ấn tượng rằng đang bắt đầu một cuộc nổi dậy chống lại Đảng Quốc xã ngay trong nước Đức.

Dù không chủ định, nhưng các điệp viên mang về nhiều thông tin tình báo bổ ích. Một tù binh đã đột nhập vào chiến tuyến phía Bắc Siena và phát hiện 18 chiếc xe tăng Mãnh hổ của Đức được ngụy trang cẩn thận. Nhờ đó, quân đồng minh ném bom phá hủy hoàn toàn số xe tăng này.

Thành công của điệp vụ đầu tiên cho thấy giá trị chiến thuật dùng các mật vụ “tù binh chiến tranh” trở lại trận tuyến của kẻ địch bất chấp những hoài nghi từ các sĩ quan Anh rằng tù binh có thể làm “hai mang”.

Hơn tất cả, sự thành công của chiến dịch Saurkraut cho thấy chiến dịch này cần được nhân rộng trên các mặt trận và phải được tiếp tục. Nhiều “mật vụ tù binh” đã được nhánh tình báo quân đội số 5 (G-2) tuyển dụng. Nhiều cơ sở huấn luyện nâng cao đã được thành lập trên đất Italia.

Nhận giải thưởng Huân chương Sao Vàng

Sau đó, Lauwers được giao nhiệm vụ tiếp tục hỗ trợ các điệp viên Saurkraut “sản xuất” tài liệu tuyên truyền tại biệt thự an toàn nói trên. Bà phối hợp cùng một đội khoảng 20 nhân viên nam của OSS. Bà là người phụ nữ duy nhất của nhóm. Bà được ghi công trạng khi có sáng kiến lập “Liên đoàn các phụ nữ cô đơn trong chiến tranh”. Tờ Washington Post đã viết một bài báo dài đề từ Rome có đoạn: “Lính Đức rút khỏi chiến trường Italia chỉ phải đính trên ve áo hình trái tim xoắn vào nhau khi được nghỉ phép về nhà tìm bạn gái”. Thông tin trên là từ một thông tư thu được trên mặt trận của quân Đức.

Chính tờ thông tư đó do Lauwers viết bằng thứ ngôn ngữ cẩn trọng, nhưng rất quen đối với lính Đức. Tờ thông tư tiết lộ sự tồn tại của liên đoàn, nơi các thành viên sẵn sàng hy sinh thân mình biến giấc mơ của những người lính thành sự thực. Mục đích là làm vui lòng những người lính đang kỳ nghỉ phép, đồng thời đẩy mạnh tỷ lệ tăng dân số của Đức.

Một chiếc cúc được đính vào tờ thông tư. “Hãy nhận lấy chiếc cúc này và trưng nó ra. Một thành viên liên đoàn sẽ sớm chăm sóc bạn và những ước mơ, mong mỏi của bạn ở mặt trận sẽ thành hiện thực. Chúng tôi có thành viên ở mọi nơi. Bởi vì, chúng tôi, những phụ nữ Đức ý thức được trách nhiệm của mình đối với những người bảo vệ đất nước. Đừng ngượng. Vợ bạn, mẹ bạn, em gái, người yêu bạn là một trong số chúng tôi. Chúng tôi nghĩ về các bạn và nghĩ về tương lai nước Đức”.

Barbara Lauwers hiện tại.

Lauwers để ý thấy có nhiều lính Séc và Slovakia phục vụ trong quân đội Đức trên chiến trường Italia, chủ yếu làm những việc hậu cần. Lauwers đề nghị và được chấp thuận thực hiện kế hoạch nhằm vào đối tượng binh lính này. Lauwers chuẩn bị hai loại truyền đơn, một bằng tiếng Séc và loại còn lại bằng tiếng Slovakia để cho các tù binh Đức tuồn vào phía chiến tuyến của lính Đức. Các truyền đơn này chỉ dùng máy chữ có sẵn của Séc và Slovakia tại văn phòng ở Vatican. Nội dung truyền đơn có đoạn: “Gửi binh lính Séc – Slovakia đang trong hàng ngũ quân đội Đức.

Vào tháng 9/1938, tại Cung thể thao Berlin, Hitler đã thề trước toàn thế giới sẽ không có bất kỳ một người Séc-Slovakia nào phục vụ trong quân đội Đức. Tuy nhiên ngày nay, những người lính của chúng ta đang bị Đức Quốc xã lợi dụng phục vụ cho binh lính của chúng. Bên phía quân đồng minh ở Italia, đằng sau trận tuyến của Đức, chiến đấu dưới hầm ngầm cùng những người ủng hộ Italia là những đàn ông, đàn bà, những người buộc phải rời bỏ Tổ quốc, và một ngày nào đó họ sẽ trở về Séc – Slovakia như những người tự do. Các anh là những người bị đẩy chống lại những người đang chiến đấu trong những hầm ngầm đó. Các anh ra chiến trường này để bảo vệ người Đức. Vận mệnh của người Đức đã được định đoạt. Quân đội của Hitler đã bị đánh cho tơi tả, bị thất trận ở Nga, Italia, Pháp và đang phải rút lui về giới tuyến của mình.

Có duy nhất một mệnh lệnh cho các bạn, những người lính. Hãy từ bỏ mối ràng buộc đáng hổ thẹn với người Đức, về những người ủng hộ. Chỉ duy nhất một con đường trở về với quê hương: con đường mà những người nông dân của các anh đã lựa chọn 4 năm trước. Hãy nhớ những lời Tổng thống Masaryk từng nói: “Chúng ta chiến đấu vì tự do cho châu Âu và toàn nhân loại. Hãy hoàn thành nghĩa vụ đối với mảnh đất ngàn năm duy trì tinh thần độc lập. Hãy vượt sang với chúng tôi”.

Nội dung tương tự cũng đã được phát trên đài BBC hướng trực tiếp đến các đơn vị đồn trú người Séc – Slovakia tại miền Bắc Italia. Tờ truyền đơn mà Lauwers viết đã được tìm thấy trong túi của hơn 600 binh lính người Séc – Slovakia vượt chiến tuyến trốn khỏi quân đội Đức.

Chính nhờ chiến dịch này mà vào ngày 6/4/1945, Lauwers được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng trước sự chứng kiến của toàn đội MO. Đối với Lauwers đó là ngày vinh quang chiến thắng. Chỉ vài tuần sau lễ nhận Huân chương Sao Vàng, Lauwers được cử tới Lovorno để gặp gỡ những người lính Séc-Slovakia. Tại cổng, Lauwers được các sĩ quan chào đón. Đó là những người lính đã đọc truyền đơn của bà và nghe theo lời kêu gọi trong những tờ truyền đơn đó. Họ vẫn mặc quân phục Đức, nhưng trên phù hiệu Quốc xã họ đeo một dải 3 màu xanh, trắng đỏ. Hơn 600 người đã hát vang quốc ca Séc – Slovakia và vượt tuyến theo lời kêu gọi của truyền đơn. Cuộc chiến trên chiến trường Italia kết thúc vào ngày 29/4/1945.

Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, Williams được điều chuyển sang Bộ phận tội phạm chiến tranh của OSS ở Salzberg nơi ông hỗ trợ làm poster sử dụng trong các phiên tòa xét xử những tên tội phạm chiến tranh Đức quốc xã khét tiếng. Sau đó, Williams chuyển tới Hollywood làm việc cho cựu thành viên OSS, Giám đốc John Ford.

Còn với Lauwers, sau khi chiến tranh thế giới lần II kết thúc, bà trở về thăm gia đình ở Séc – Slovakia. Mọi thứ dường như khác hẳn. Bà nhớ lại, sau chiến tranh mọi thứ như thể một đống hoang tàn, cộng đồng dân cư đóng kín, hoang vắng, không mảy may dấu hiệu của cuộc sống con người cũng như động vật. Phía đông Praha, đường sá hầu như bị tàn phá hoàn toàn.

Lauwers trở về Mỹ và cố liên lạc với chồng nhưng những gì bà nhận được chỉ là một thực tế: cả hai quyết định ly dị. Sau đó, bà làm việc cho đài Tiếng nói nước Mỹ (VOA), rồi lại chuyển cho Viện Khoa học quốc gia ở Washington. Trước khi nghỉ hưu năm 1968, bà làm việc cho Thư viện Quốc hội Mỹ trong suốt 20 năm với tư cách là nhà phân tích nghiên cứu. Bà trở về Áo và sống ở đó trong 9 năm, hỗ trợ văn phòng của một tổ chức quốc tế về người tị nạn tại Vienna. Năm 1977, Lauwers trở về Washington, bà mất ngày 16/08/2009 do mắc bệnh tim, hưởng thọ 95 tuổi

Hồng Hà
.
.
.