AP tiết lộ sự thật làm chấn động nước Mỹ về chiến tranh Triều Tiên

Thứ Năm, 01/12/2011, 14:39

Tháng 9/1999, một nhóm điều tra từ hãng tin AP đã tiết lộ một sự thật làm chấn động công luận Mỹ. Theo các nhà điều tra từ AP, cách đây 50 năm, những người dân tị nạn bị bắt trong cuộc chiến tranh Triều Tiên đã bị sỉ nhục và thậm chí bị bắn chết bởi lính Mỹ.

Cuộc chiến quên lãng

Chiến tranh Triều Tiên là một cuộc xung đột đẫm máu. Nó để lại Triều Tiên gồm cả Nam và Bắc Triều với vài triệu người chết, còn các lực lượng lính Liên Hiệp Quốc tham gia vào trận chiến với hơn 100.000 người bị thương. Mặc dù chiến đấu dữ dội như bất kỳ hành vi xung đột nào khác kể từ Thế Chiến II, chiến tranh Triều Tiên bị lịch sử ghi nhận là "Cuộc chiến quên lãng".

Trong khi các tội ác được tiến hành bởi các lực lượng quân sự Nam - Bắc Triều được ghi nhận, gần đây một mảng tối gồm có sự tham dự của người Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên đã bắt đầu lộ diện. Nó phủ một cái bóng bên trên việc quân Mỹ đã tiến hành trong suốt cuộc xung đột, đặc biệt là giữa các viên chức và tướng lĩnh quân đội Mỹ.

Những tài liệu quân sự được giải mật gần đây được tìm thấy trong Văn thư lưu trữ quốc gia Hoa Kỳ đã cho thấy một sự thật rõ ràng rằng các chỉ huy Mỹ luôn lập đi lập lại - chứ không có vẻ mơ hồ - việc ra lệnh cho các lực lượng dưới quyền của họ săn lùng và tiêu diệt những di dân liên Triều trên các chiến trường. Trong một mớ bòng bong của những lời làm chứng từ những nạn nhân sống sốt, những người từng bị chết hụt quả quyết nói rằng những cựu binh Mỹ từng dính líu hãy dũng cảm đứng lên thừa nhận tội ác trước công luận.

Cuộc chiến tranh Triều Tiên bắt đầu vào ngày 25/6/1950 khi chính quyền Cộng sản Triều Tiên tiến hành xâm chiếm Nam Triều Tiên bằng 6 sư đoàn quân đội. Các lực lượng Bắc Triều Tiên này được sự ủng hộ đáng khích lệ từ chính quyền Xô Viết bằng thiết bị xe tăng đã nhanh chóng tiến sâu vào vùng đất của Nam Triều Tiên. Hoa Kỳ quyết định can thiệp vào Nam Triều Tiên và lợi dụng sự vắng mặt của Liên Xô trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (UNSC), đã dùng báo chí trình Liên Hiệp Quốc về những hành vi của cuộc xâm lược.

Vài ngày sau đó, Hoa Kỳ đã lôi kéo thêm sự hậu thuẫn của các quốc gia thành viên của UNSC nhằm tăng cường sự hỗ trợ cho Nam Triều Tiên tiến hành đẩy lùi các cuộc tấn công. Tướng Douglas MacArthur, sau đó phụ trách ở khu vực Nam Thái Bình Dương và chiếm đóng Nhật Bản, đã được bổ nhiệm là chỉ huy của các lực lượng liên doanh.

Một buổi lễ tại Hàn Quốc nhằm tưởng niệm cho các nạn nhân bị thiệt mạng trong cuộc chiến tranh Triều Tiên.

400 di dân Nam Triều Tiên bị chết do bàn tay của lính Mỹ 

Sự khởi đầu gần như sau đó đã ngay tức khắc khiến cho quân Mỹ lạc lối trong cuộc chiến Triều Tiên. Họ đã đổ xô đến phòng tuyến trong lúc thi hành việc chiếm đóng Tokyo vào tháng 7/1950, khi đó quân Mỹ hầu như chân ướt chân ráo, vừa non huấn luyện vừa yếu công tác chuẩn bị nhưng ngay tức khắc người Mỹ đã đánh bại lực lượng quân sự cao cấp của Bắc Triều Tiên.

Các chỉ huy Mỹ đã qua mặt các đơn vị quân sự Bắc Triều Tiên bằng cách áp dụng kỹ thuật du kích tập kích mục tiêu từ phía sau. Nhưng có một vấn đề khác. Vụ tấn công bất ngờ vào lực lượng Bắc Triều Tiên đã tạo ra một cuộc khủng hoảng dòng người tị nạn trên quy mô lớn. Chỉ vài tuần sau khi cuộc xung đột bắt đầu, đã có hơn 2 triệu người tị nạn tràn trên khắp chiến trường, gây tắc nghẽn các tuyến đường của Liên Hiệp Quốc.

Dưới áp lực và lo ngại sự xâm nhập của quân đội Bắc Triều Tiên khiến cho ngay cả quân Mỹ cũng hoảng sợ. Từ đó quân Mỹ rơi vào sai lầm khi ban bố lệnh bất kỳ dân thường nào cũng bị xem là kẻ địch. Vào ngày 26/7/1950, quân đoàn 8 của Mỹ (hay EUSA) - cấp chỉ huy cao nhất ở Nam Triều Tiên đã ban bố lệnh cấm tất cả dân tị nạn Bắc Triều Tiên: "Nhắc lại một lần nữa, không người dân tị nạn nào được phép vượt qua chiến tuyến bất kỳ lúc nào. Việc di tản phải chấm dứt ngay tức khắc".

Cùng ngày đó, một thảm họa lớn đã xảy ra trực tiếp đánh vào dân thường tị nạn. Một cây cầu đá gần ngôi làng No Gun Ri bắc qua một con suối nhỏ, nó cũng giống như những cây cầu đá khác vốn là cảnh quan chung của Liên Triều chỉ cho đến gần đây thành cầu bị châm chọc bởi rất nhiều lỗ đạn. Cùng ngày EUSA ra lệnh ngăn chặn luồng di dân tị nạn trong tháng 7/1950, hơn 400 di dân Nam Triều Tiên trong khi đang tụ tập trên cầu đã bị giết hại bởi chính Trung đoàn kỵ binh số 7 của Mỹ. Một số di dân bị bắn chết trên cầu, trên đường ray xe lửa. Số khác bị chết thảm bởi máy bay Mỹ oanh tạc. Nhiều người bị chết dưới gầm cầu khi mà những người sống sót nói rằng họ bị thương và đói trong suốt 3 ngày.

Mệnh lệnh Thần chết

Ông Yang Hae Chan, người sống sót trong vụ thảm sát dân thường tại làng No Gun Ri vào ngày 26/7/1950.
Ông Yang Hae Chan, một trong những người may mắn sống sót trong vụ thảm sát kinh hoàng bởi lính Mỹ, hồi hộp nhớ lại: "Gầm cầu là một hỗn hợp của cát và sỏi. Người tị nạn buộc phải dùng tay trần để cào cấu thành cầu nhằm tạo ra những cái hốc để trú ẩn. Những người khác can đảm chất đống xác người để tạo thành chướng ngại vật, và náu mình đằng sau những tử thi bê bết máu như một "tấm khiên" nhằm chống lại đạn bắn".

Làm chứng cho lời khai của những người Nam Triều Tiên sống sót là 35 cựu binh thuộc Trung đoàn kỵ binh số 7 của Mỹ, những người này nhắc lại "kỷ niệm" tại No Gun Ri. Dù quan điểm khác nhau nhưng những chi tiết hồi sức của các cựu binh Mỹ đã gợi lại một vết cháy bỏng trong tâm can của họ bởi cái ngày đầu tiên họ tham chiến cũng là ngày gây sốc nhất trong đời binh nghiệp của họ.

Cựu binh Joe Jackman thuộc Trung đoàn kỵ binh số 7 thảng thốt hồi tưởng: "Có một vị Trung uý la hét như gã điên: Bắn hết mọi thứ, tiêu diệt tất cả". Tôi không rõ họ là dân thường hay binh sĩ. Lạy Chúa, cả trẻ em ở đó, chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra làm sao, đủ thứ lứa tuổi từ 8 đến 80 tuổi, cả người mù, tàn tật hoặc điên cuồng, tất cả họ đều gục xuống vì đạn bắn".

Cùng với vụ thảm sát tại Mỹ Lai (Việt Nam) 20 năm sau đó, những vụ điên cuồng bắn giết tại làng No Gun Ri được xem là một trong những tàn sát dân thường duy nhất lớn nhất gây ra bởi quân đội Mỹ trong thế kỷ 20. Khi những tin tức về vụ thảm sát dân thường đen tối tại làng No Gun Ri lần đầu tiên bị bóc trần bởi các nhà báo điều tra dày dạn kinh nghiệm của hãng tin AP vào tháng 9/1999, ngay tức khắc nó đã tạo nên một trận đại địa chấn ngay trong lòng nước Mỹ.

Vén bức màn đen

Tướng Douglas MacArthur, sau đó phụ trách ở khu vực Nam Thái Bình Dương và chiếm đóng Nhật Bản, đã được bổ nhiệm là chỉ huy của các lực lượng liên doanh.

Cả nước Mỹ bị "sốc" bởi báo cáo của hãng tin AP. Trước đó, quân Mỹ từng lên tiếng bác bỏ về những trường hợp di dân tị nạn Nam Triều Tiên sống sót, những người này ngay từ năm 1960 đã cố gắng đi tìm sự thật về vụ thảm sát tại làng No Gun Ri. Quân đội Mỹ "mồm loa mép dãi" khi nói rằng chẳng có chuyện gì xảy ra tại làng No Gun Ri vào thời điểm xảy ra vụ thảm sát.

Nhưng không chỉ có những bằng chứng mới cáo buộc Trung đoàn kỵ binh số 7 nhúng tay vào vụ No Gun Ri mà những khám phá của các cựu binh Mỹ sẵn sàng nói về những sự kiện xảy ra cách đây 50 năm khiến cho Mỹ không thể phủ nhận về vụ thảm sát. Chính quyền Clinton nhanh chóng chỉ đạo Lầu Năm Góc, đặc biệt là quân đội Mỹ, tiến hành một cuộc điều tra xem chuyện gì đã xảy ra tại làng No Gun Ri.

Kể từ báo cáo ban đầu của hãng tin AP, ngày càng có thêm nhiều tài liệu nói đến việc tàn sát dân thường được tìm thấy trong Văn thư lưu trữ quốc gia Mỹ. Chúng ám chỉ đến bàn tay của các chỉ huy Mỹ đối với cái chết của dân thường tại làng No Gun Ri. Vào tháng 8/1950, có 3 mệnh lệnh chi tiết rằng phải bắn bỏ những di dân có ý định vượt qua sông Naktong. Sau đó cùng trong tháng 8/1950, Tướng Gay, chỉ huy của Sư đoàn kỵ binh số 1 (là một phần của Trung đoàn kỵ binh số 7 tại làng No Gun Ri), thực sự đã ra lệnh cho các đơn vị pháo binh đã tấn công dân thường trên chiến trường. Vào cuối tháng Giêng năm 1951, EUSA đã đưa ra báo cáo chi tiết về vụ tấn công dân thường Nam Triều Tiên trong đó có cả đánh bom.

Các cáo buộc mới về những vụ tàn sát dân thường trong cuộc chiến Liên Triều cũng đã nổi lên. Tháng 8/1950, 80 dân thường bị báo cáo là đã bị giết hại trong lúc họ đang tìm kiếm nơi ẩn náu trong một ngôi đền tại làng Kokaan-Ri gần Masan (Nam Triều Tiên). Những người sống sót khác nhớ lại là 400 thường dân đã bị pháo binh hải quân Mỹ giết hại trên bãi biển gần cảng Pohang vào tháng 9/1950, và hàng tá ngôi làng xuyên suốt Nam Triều Tiên đã bị oanh tạc bởi máy bay Mỹ hay "những người da trắng" trong suốt các tháng 7 và tháng 8/1950. Tổng cộng có khoảng 61 vụ giết hại dân thường do lính Mỹ thực hiện, hiện đã được phía chính quyền Hàn Quốc xác thực.

Phủ nhận

Cuộc điều tra của Lầu Năm Góc tại làng No Gun Ri cuối cùng đã được công bố vào tháng Giêng năm 2001. Các cơ sở kết luận đã bộc lộ ra nhiều điểm nghi vấn. Cuộc điều tra thừa nhận việc giết hại dân thường tại làng No Gun Ri bởi quân đội Mỹ, nhưng lại kết luận rằng những vụ giết hại dân thường đã diễn ra không phải là cuộc tấn công có chủ ý mà là "một bi kịch không may như nó vốn có của chiến tranh". Tuy nhiên bất kỳ điều gì nhầm lẫn trên chiến trường vào thời điểm đó thì lệnh tấn công rõ ràng đã được đưa ra bởi chỉ huy bằng cách không cho dân tị nạn vượt biên.

Quan trọng hơn, các tài liệu còn chỉ ra rằng các mệnh lệnh đã được đưa ra bởi Trung đoàn kỵ binh số 8, "em gái" của Trung đoàn kỵ binh số 7 có nhúng tay vào vụ No Gun Ri. Tài liệu này nói: "Không có dân tị nạn nào vượt qua biên giới. Chỉ bắn những ai cố gắng vượt biên. Phụ nữ và trẻ em tự do đi lại". Đây là mệnh lệnh từ trụ sở của Sư đoàn kỵ binh số 1.

Những tài liệu khác đã khám phá ra rằng chính Không lực Mỹ là đơn vị chịu trách nhiệm trong việc giết hại thường dân theo yêu cầu của quân đội. Đại tá Không quân Mỹ Turner Rogers đã viết một bản ghi nhớ vào một ngày trước khi xảy ra vụ thảm sát dân thường tại làng No Gun Ri. Biên bản này đề cập: "Quân đội Mỹ đã yêu cầu chúng tôi oanh tạc những nhóm thường dân tị nạn đang ở gần chúng tôi nhất. Cho đến nay, chúng tôi đã tuân thủ các yêu cầu mà phía quân đội đưa ra".

Cựu binh Mỹ lên tiếng và tìm kiếm sự thật

Bất chấp những sự thật này, Lầu Năm Góc vẫn khăng khăng đề cập trong báo cáo rằng không có mệnh lệnh nào được đưa ra về việc thảm sát dân thường tại làng No Gun Ri. Không có bằng chứng nói rằng vào thời điểm đó dân thường tị nạn bị đánh đồng với kẻ thù. Mặc dù vậy, đây là bản kết luận đáng ngạc nhiên để từ đó thu hút các lý do khác.

Thứ nhất, lời khai bằng miệng được đưa ra bởi các cựu binh Mỹ trong Trung đoàn kỵ binh số 7. Bằng chứng này đã không được công bố ra công cộng nhưng lại bị khám phá bởi những người được cho phép truy cập vào hồ sơ. Thứ hai, việc đăng nhập thông tin liên lạc của Trung đoàn kỵ binh số 7 có thể chứa các bằng chứng về các mệnh lệnh này đã bị mất tích

Nguyễn Thanh Hải
.
.
.