Thực hư chuyện làm gián điệp của Coco Chanel

Chủ Nhật, 11/09/2011, 14:45

Coco Chanel là một trong những người phụ nữ nổi tiếng nhất của thế kỷ XX, nhưng danh tiếng của Coco Chanel một lần nữa đang bị soi xét kỹ lưỡng hơn qua những lời cáo buộc mới đây cho biết bà là một gián điệp với mật danh F-7124.

Hàng triệu người trên toàn cầu đều biết thương hiệu Chanel đại diện cho phong cách sang trọng, quý phái và lịch thiệp nho nhã, từ thời trang cao cấp dành cho số ít người giàu có cho đến hàng may sẵn cho đại chúng.  Trong số các mặt hàng cao cấp dễ nhận biết của Chanel có những bộ quần áo dành độc quyền cho các "người mẫu Hoàng gia", từ Nữ công tước xứ Windsor cho đến Đệ nhất phu nhân Pháp Carla Bruni-Sarkozy.

Đệ nhất phu nhân Mỹ Jackie Kennedy mặc một bộ dạ hội màu hồng khi chồng bà, Tổng thống John Fitzgerald Kennedy, bị ám sát tại Dallas vào năm 1963. Và "chiếc áo dạ hội bé nhỏ màu đen" (LBD) của Chanel, về sau thành biểu tượng cho phong cách "đơn giản mà thanh lịch" của Audrey Hepburn trong phim "Bữa sáng ở Tiffany", thường xuyên đứng đầu các cuộc khảo sát dư luận về "biểu tượng hàng đầu của tất cả các mặt hàng quần áo".

Tuy nhiên, có một khía cạnh khác đối với nhân vật Gabrielle "Coco" Chanel, liên quan đến những hành vi của bà tại nước Pháp bị chiếm đóng hồi Thế chiến II. Giống như một số ngôi sao khác, như ca sĩ Edith Piaf và Maurice Chevalier, nhà văn Jean Cocteau và cố Tổng thống Francois Mitterrand, Chanel vẫn ở lại ngay trên mảnh đất quê hương mình sau khi quân Đức xâm chiếm vào mùa hè năm 1940.

Giờ đây theo Hal Vaughan, tác giả của cuốn sách mới "Ngủ với kẻ thù", Chanel được tiết lộ là đã thực sự làm việc cho tình báo quân đội Đức trong thời chiến. Ông cho rằng: "Vai trò gián điệp  là "một phần cuộc sống thường nhật của cô ta" ở Paris trong thời gian Đức Quốc xã chiếm đóng. Chanel là một kẻ cơ hội trong khi bị quyền lực làm mờ mắt. Đó là chuyện có thật về cuộc sống của cô ta. Chanel đã không tin vào bất cứ điều gì, ngoại trừ thời trang. Chanel tin vào quần áo đẹp, tin vào việc kinh doanh của mình và đúng như vậy, cô không quan tâm Hitler là ai, chính trị hoặc chủ nghĩa Đức Quốc xã là gì".

Thu mình trong sự sang trọng của khách sạn Ritz, một đặc ân dành cho số ít người không có quốc tịch Đức, Chanel thường xuyên liên lạc với những lãnh đạo của nước Đức thời đó. Đầu mối cho cáo buộc mới là mối quan hệ của Chanel với viên sĩ quan Đức Baron Hans Guenther von Dincklage, 44 tuổi, người được Vaughan mô tả là "loại người ăn chơi và thích đánh quần vợt". Ông ấy không phải là một sĩ quan tình báo quân sự chuyên nghiệp, và bắt đầu hoạt động ở Pháp kể từ cuối những năm 1920.

Chính Dinklage là người sắp xếp cho nhà tạo mẫu thời trang Chanel 57 tuổi ở lại trong khách sạn Ritz và là người quản lý quan hệ kinh doanh của bà với các quan chức tình báo Đức Quốc. Đổi lại, Vaughan nói, Cơ quan tình báo quân sự Đức Quốc xã (Abwehr) đã nhận Chanel vào làm điệp viên dưới mật danh F-7124, tên mã là "Westminster" - đặt theo tên người tình cũ của bà.

Trong mối quan hệ lượn lờ, Chanel khôn khéo tìm mọi cách cho cháu trai Andre Palasse được trả tự do khỏi trại tù binh chiến tranh ở Đức. Abwehr nói chung và Dinklage nói riêng có ý định kiểm soát việc kinh doanh nước hoa lợi nhuận cao của Chanel, trong khi cô đã nhượng quyền lại cho anh em nhà Wertheimer (gốc Do Thái) vào năm 1924.

Trong khi đồng ý rằng cuốn sách của Vaughan cho biết thêm một số chi tiết mới về những năm chiến tranh trong cuộc đời của Chanel, nhà văn Justine Picardie, nhà viết tiểu sử "Coco Chanel: huyền thoại và cuộc đời" xuất bản năm ngoái, tin tưởng rằng động cơ của Chanel "có chút tế nhị và sắc thái riêng".

Theo ông, mọi thứ cô ấy làm là một nghịch lý: "Cô ấy thật mâu thuẫn. Một mặt, cô kiêng kị nhóm người thuộc nhóm ngôn ngữ Semite, nhưng rồi một số bạn hàng thân thiết của cô đều là người Do Thái, như dòng họ Rothschilds. Đối tác kinh doanh của cô thực sự cũng là người Do Thái, và ông tiếp tục là đối tác kinh doanh của Chanel sau chiến tranh".

Tuy nhiên, thật ra Chanel đã làm những gì trong vai trò một gián điệp? Sau khi được Đức Quốc xã hứa hẹn trả tự do cho cháu trai của cô, nghe nói Chanel đã đến Madrid vào tháng 8/1941 bằng số tiền thưởng đặc biệt của Đức Quốc xã, lợi dụng các đầu mối liên lạc của mình để lấy thông tin tình báo chính trị.

Tuy vậy, theo một tài liệu được Vaughan trích dẫn, chuyến thăm này chỉ thấy cô trao đổi "những chuyện tầm phào" với một nhà ngoại giao Anh. Người này sau đó báo cáo với cấp trên: "Người Đức không thể hiểu cô đầm Pháp này và điều đó khiến cho họ ghét người Pháp hơn, đến mức cô Chanel lo sợ không biết chuyện gì sẽ xảy ra".

Vaughan dễ dàng chấp nhận rằng Chanel không phải là gián điệp. Ông nói: "Làm gián điệp thì bạn phải chụp ảnh và sao chép các tài liệu, trong khi Chanel không bao giờ làm điều đó”. Khi chiến tranh kết thúc, Chanel chạy trốn sang Thụy Sĩ trước khi được miễn xá tội cộng tác với kẻ thù. Trong khi Vaughan nói nhờ Churchill can thiệp, những người khác lại cho rằng nhờ có Hoàng gia Anh.

Trở về Paris năm 1954, bà tái lập lại việc kinh doanh thời trang cao cấp và được tài trợ bởi không ai khác hơn là Pierre Wertheimer, một trong những người đàn ông mà cô đã tìm cách truất quyền sở hữu thời chiến tranh. Tháng 1/1971, Coco Chanel qua đời thọ 87 tuổi tại nơi cư ngụ từ thời chiến của bà, khách sạn Ritz ở Paris (Pháp).

Sống giữa cuộc chiến tranh và những xung đột, bao giờ người ta cũng mạnh về bản năng sinh tồn. Coco Chanel là một trường hợp, từ trại trẻ mồ côi Công giáo, với bản năng sinh tồn đã vươn lên thành một quý bà được cả thế giới biết đến

Lệ Đào (tổng hợp)
.
.
.