Đại hội XIV và hành trình tiếp nối

Thứ Tư, 28/01/2026, 10:42

LTS: Có một điều gì đó rất tương đồng trong không khí hôm nay so với 40 năm trước, khi Đại hội VI diễn ra. Đó chính là sự chờ đợi một cuộc đổi mới. Những nghị quyết, chính sách, sắp xếp được thực hiện suốt năm 2025 đã là một bước chuẩn bị cực lớn, là bước “tiền Đổi mới” 2 để đất nước tiến vào kỷ nguyên mới hùng cường, thịnh vượng.

Kỷ nguyên tri thức

Trong bộ phim nổi tiếng giành được 3 đề cử giải Oscar năm 2017 có tên “Hidden Figures” (tạm dịch: Những nhân tố thầm lặng), có một cảnh phim rất đáng chú ý: trước khi thực hiện chuyến bay lịch sử vào quỹ đạo Trái Đất năm 1962, phi hành gia huyền thoại John Glenn từ chối bay nếu không có sự xác nhận từ Katherine Johnson, một nhà nữ toán học người da màu. Bộ phim dựa trên một sự kiện có thật, với bối cảnh là Hoa Kỳ thập niên 1960, một giai đoạn mà kỳ thị chủng tộc và giới tính ám ảnh xã hội Mỹ.

Đại hội XIV và hành trình tiếp nối -0

Vì thế, hình ảnh trên có tính biểu tượng rất mạnh: phi hành gia không chịu bay, nếu nhà khoa học không trực tiếp xác nhận. Dù rất nhiều người đã coi thường ý kiến của nhà nữ toán học, vì giới tính và màu da, nhưng người quan trọng nhất trong phi hành đoàn đã giữ sự tôn trọng đặc biệt với tiếng nói của khoa học.

Trong cùng năm đó, một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phi lợi nhuận Pew (Washington, Mỹ) chỉ ra rằng hầu hết người Mỹ biết đến các nhà khoa học chỉ qua phim ảnh và truyền thông. Chỉ có 18% dân số Mỹ từng tiếp xúc trực tiếp với một nhà khoa học. Người ta thống kê được rằng từ thập niên 1990 tới nay, 65% các bộ phim bom tấn của Mỹ đều có sự hiện diện của các khoa học gia. Trước “Hidden Figures”, thì “The Imitation Game” và “The Theory of Everything”, hai bộ phim tiểu sử cùng sản xuất năm 2014, đã làm hình tượng khoa học gia máy tính Alan Turing và nhà vật lý Stephen Hawking trở thành những người hùng toàn cầu.

Khoa học gia, trong tiềm thức của người Mỹ, là những người hùng, theo đúng nghĩa đen, và có một chiến dịch lớn phục vụ cho góc nhìn này. Năm 2008, serie phim “Iron Man” (Người Sắt) không những thổi bay các phòng vé toàn cầu, mà còn tái khẳng định thông điệp này, một cách mạnh mẽ và trực tiếp nhất. Suốt vài thập niên, nhìn nhận các nhà khoa học như những người hùng đã trở thành một dạng quan niệm, với tri thức là sức mạnh tối thượng.

Tháng 10/2025, tại buổi gặp mặt đại biểu tham dự Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 7 có chủ đề “Việt Nam: phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới”, Tổng Bí thư Tô Lâm có đưa ra một quan điểm đáng chú ý, ông cho rằng các nhà khoa học không chỉ nghiên cứu “Việt Nam là ai trong quá khứ” mà còn cùng Đảng, Nhà nước góp trí tuệ xác định “Việt Nam sẽ là ai trong tương lai”.

Sau 40 năm Đổi Mới, Việt Nam đã trải qua một giai đoạn tăng trưởng rực rỡ nhờ những doanh nhân xuất sắc, với sự thừa nhận cao quý nhất là danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Lao động là giá trị chủ đạo, và kiếm tiền không những là trách nhiệm với cá nhân, mà còn là với cộng đồng và xã hội. Doanh nhân là người hùng. Thông điệp này cho đến nay đã thành quan niệm lớn của xã hội, đến mức đôi khi trở nên cực đoan: học hành là phải kiếm được tiền, nếu không thì phí tiền cha mẹ. Vài năm gần đây, có nhiều học sinh giỏi nhiều năm liền, đỗ đại học điểm cao, đã từ chối nhập học để đi… xuất khẩu lao động. Năm 2024, cả nước có 122.000 thí sinh từ chối học Đại học.

Điều gì đã biến việc đặt sự học dưới năng lực kiếm tiền này thành một thái độ phổ biến? Có phải ngoài sự thiếu thốn là nguyên nhân biện minh cho nhiều bất cập trong xã hội, không chỉ giáo dục, thì việc thiếu đi những hình tượng giàu cảm hứng cũng là một vấn đề lớn? Ai đó sẽ muốn trở thành nhà toán học, thông qua một bộ phim thật hay về giáo sư Lưu Lệ Hằng (Bà nhận được Giải thưởng Kavli (được coi là "Nobel Thiên văn học") và Giải Shaw năm 2012. Tên của bà còn được đặt cho một tiểu hành tinh - Asteroid 5430 Luu)? Hay cuộc đời Giáo sư Trần Đại Nghĩa có thể là tấm gương cho những người trẻ giàu tinh thần dân tộc và muốn phụng sự đất nước bằng khoa học?

Là một người làm cha, đôi khi tôi cũng bất lực khi giải thích với các con mình rằng tri thức quý hơn năng lực kiếm tiền, nhưng sự thiếu thốn các ví dụ cũng là một vấn đề: thay vì dắt nó đi xem một bộ phim tiểu sử có khoa học gia là anh hùng, thì bạn có thể mất cả buổi rao giảng mà vẫn bị coi là nói lời sáo rỗng.

Sự thất thế của quan niệm về tri thức này, nhìn từ góc độ cá nhân, bạn có thể cho là tầm phào: kiếm tiền thì mới được tôn trọng chứ, học nhiều mà nghèo thì cũng chẳng để làm gì. Nhưng đấy chính là dạng quan niệm có thể đưa đất nước tiến lên trong tương lai: kỷ nguyên mới của dân tộc phải được đứng trên những khối tri thức khổng lồ, các khoa học gia, và công nghệ từ khoa học cơ bản. Những thứ không thể đột nhiên xuất hiện từ không khí, hay các chuyến xuất khẩu lao động.

40 năm cho một cuộc “minh oan”

Đổi Mới và hành trình tiếp nối trong 40 năm sau đó đã giải oan cho một lực lượng – mà sự thăng hoa của họ sẽ góp phần tạo nên Kỷ nguyên mới cho nước nhà.

Đại hội XIV và hành trình tiếp nối -0
Công cuộc đổi mới năm 1986 đã giúp nhiều nhà văn cho ra đời nhiều tác phẩm phản ánh hiện thực đời sống.

“Ôi giời thời buổi này, tiến sĩ giáo sư thì cũng phải ngày hai bữa lo ăn, sinh viên thì có đứa bạc mặt vì chạy việc. Học mà làm gì!… Chỉ thịnh đạo lý, sách vở… Thế thì suốt đời đói nghèo là phải”.

Đó là một câu thoại trong tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” của nhà văn Ma Văn Kháng. Đó là thoại của Lý, cô con dâu trưởng ưa quán xuyến, thích vun vén, lo chu toàn cho đời sống vật chất của gia đình. Cô nói câu ấy trong sự hãnh diện. Chỉ ngay trong cảnh sau đó, cô sẽ dọn lên “một mâm cỗ quá ư thịnh soạn vào cái thời buổi đất nước còn rất nhiều khó khăn sau hơn ba mươi năm chiến tranh và so với đồng lương có hạn của cán bộ, công nhân viên chức lúc này”, một mâm cỗ “la liệt bát đĩa ngồn ngộn các món ăn”, một mâm cỗ “có gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, súp lơ xào thịt bò… các món vịt tần, vây và mọc”.

Lý sẽ hiện tiếp lên trong những trang sách tiếp theo, như bạn có thể đoán được, là một người toan tính đến mức lạnh lùng. Câu thoại ở đầu bài này là một thái độ của tác giả, vạch ra một ranh giới giữa cái thanh cao của đạo lý, sách vở, tri thức, với những sự tính toán, thực dụng, vị kỷ của người con dâu.

Có một thời, những người như cô Lý luôn phải đứng về phía bên kia lằn ranh, đối lập với những lý tưởng cao đẹp. Truyện ngắn “Tướng về hưu” của Nguyễn Huy Thiệp, được xuất bản sau Đổi Mới một năm (1987), nhưng có lẽ đã được viết trước đó, cũng mang cái chia rẽ sâu sắc đó. Nó rõ ràng đến nghiệt ngã: cô con dâu muốn vun vén cho đời sống kinh tế không chỉ là một người coi thường đạo lý, sách vở, mà còn chớm đến “vạch cảnh báo” của sự mất nhân tính. Cô nuôi đàn chó của mình, nguồn kinh tế chính của gia đình, bằng nhau thai lấy từ bệnh viện nơi cô làm việc.

Tất nhiên, những ông bố chồng – cán bộ về hưu – trong cả hai tác phẩm này đều nằm ở phía bên kia lằn ranh, gợi nhớ cho người ta về một sự thanh sạch đang bị chà đạp.

Bạn có thể bắt gặp hình ảnh phản diện đó trong bất-kỳ-tác-phẩm nào của giai đoạn đó, của bất kỳ loại hình nghệ thuật nào. Người mẹ trong phim “Hà Nội mùa chim làm tổ”, một kẻ buôn lậu sẵn sàng chà đạp lên tình yêu của con gái để quy hoạch lợi ích kinh tế cho gia đình. Hay những người hàng xóm trong “Người tốt nhà số 5” của Lưu Quang Vũ, những người không chỉ cố gắng xoay sở để mưu sinh, mà còn phải tìm cách “ủn” cái con người lý tưởng là anh nhân vật chính ra khỏi tầm mắt. Thậm chí nó còn trở thành một chủ đề xuyên suốt của một số tác giả, như Ma Văn Kháng, bạn sẽ lại gặp cái người phụ nữ thực dụng, chới với về đạo đức đó trong tiểu thuyết “Đám cưới không có giấy giá thú”. Có một thông điệp rõ ràng của thời đại đó, rằng kẻ thực dụng không-phải-là-người-tốt, kẻ tư hữu không-được-phép là người tốt, kẻ vun vén cho bản thân là một kẻ đã bước qua một lằn ranh thiêng liêng của những con người xã hội chủ nghĩa lý tưởng.

Đó là tư duy mà chúng ta mang suốt những năm tháng dài. Nó giống như một chấp niệm. Tư duy đó đã được phản biện, được cải thiện, được lật lại bởi chính các lãnh đạo Đảng. Hôm nay nhìn lại, chúng ta hiểu rằng việc mong muốn có một đời sống kinh tế tốt hơn cho bản thân, cho gia đình hạt nhân, không phải là một điều xấu xa - nó luôn nằm trong mục tiêu lớn của cả đất nước. Sự hy sinh lợi ích riêng không phải là biểu hiện duy nhất của lòng ái quốc. Nhưng đó không phải là một cuộc thay đổi chỉ diễn ra sau một đêm.

Thập kỷ 90 là một “vùng xám” nơi người ta bắt đầu dằn vặt với các câu hỏi. Tiểu thuyết “Phố” của nhà văn Chu Lai (1992) lại mang một câu hỏi váng vất: “Chúng ta đánh thắng giặc nhưng có giữ được mình trước đồng tiền không?”. Lúc này, người phụ nữ vun vén cho gia đình không còn là kẻ phản diện thuần túy nữa, nhưng đồng tiền vẫn là một thứ gì đó gây e sợ, vẫn đe dọa tước đoạt nhân phẩm của con người một cách dễ dàng. Thảo đi Đức xuất khẩu lao động kiếm tiền. Cô không phải người xấu. Nhưng cô cũng không thể, hoặc không-được-phép giữ gìn trọn vẹn sự thanh sạch của mình. Vẫn có một niềm tin đâu đây, rằng đồng tiền, sự thịnh vượng không thể chỉ đến một cách nhẹ nhàng, chính chuyên, cao quý, mà luôn phải có một cái giá vô hình nào đó.

Cơ chế lúc đó cũng chưa hoàn thiện. Đó là những ngày mà trên chương trình hài “Gặp nhau cuối tuần” của VTV, chúng ta thấy các tiểu phẩm về cơ chế Xin-Cho, những cái phong bì phải đưa dưới gầm bàn để đổi lấy quyền làm ăn.

Có lẽ nếu nhìn vào lịch sử của văn học nghệ thuật, phải tới phim truyền hình “Đồng tiền xương máu” (1990), kịch bản của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, khu vực kinh tế tư nhân mới được “giải oan” hoàn toàn. Trong tác phẩm đó, những con người cương quyết bấu chặt lấy nếp tư duy kinh tế cũ, không chịu mở rộng và tìm kiếm sự đột phá, mới trở thành những kẻ phản diện. Những người làm giàu bằng sức lao động của mình được tôn vinh.

Và chúng ta đã đi đến hôm nay, nơi kinh tế tư nhân được coi là một động lực chính của Kỷ nguyên vươn mình.

Nhưng bạn có nhận ra, đâu đó trong các thảo luận của thập kỷ thứ 3 thế kỷ 21 này, chúng ta vẫn thấy thấp thoáng cái tư duy “không có đồng tiền nào là đồng tiền sạch”. Hãy xem những bình luận phía dưới tin tức các đại án kinh tế, nơi người ta quy chụp cho toàn bộ giới thương nhân là những kẻ buôn gian bán lận, rằng việc giàu lên nhanh chóng chắc chắn có uẩn khúc, rằng “không có bông tuyết nào là trong sạch”. Vẫn đâu đó cái tư duy của những thập kỷ trước, đồng tiền vẫn có gì đó xấu xa không thể tránh khỏi.

Đồng tiền - ngay cả những đồng tiền chỉ kiếm riêng cho bản thân và gia đình - vẫn có thể cao quý. Đồng tiền có thể là biểu hiện của tri thức, thậm chí của đạo đức, của nhân phẩm. Đó mới là chân dung của một khu vực kinh tế tư nhân mà chúng ta xứng đáng có.

40 năm sau Đổi Mới, cuộc giải oan cho kinh tế tư nhân đã kết thúc chưa? Có lẽ chúng ta chỉ có được những đồng tiền cao quý, khi chúng ta vững tin rằng mình có thể kiếm những đồng tiền cao quý - thay vì một mực nghi ngờ điều ngược lại.

Đã đến lúc văn nghệ sĩ tự cởi trói mình

40 năm trước, công cuộc Đổi Mới do Đảng lãnh đạo đã mở ra rất nhiều chân trời cho nhiều lĩnh vực. Kinh tế tư nhân tham gia vào thị trường để từ đó tạo nên nền tảng cho những tăng trưởng hôm nay. Quan hệ đối ngoại cũng thay đổi mạnh mẽ và tạo ra một vị thế Việt Nam vững chãi và uy tín trong mắt bạn bè. Nhiều, rất nhiều thay đổi đã diễn ra suốt 40 năm qua.

Đại hội XIV và hành trình tiếp nối -0

Và một trong những thay đổi tích cực nhất, được nhắc nhớ nhiều của công cuộc Đổi Mới năm 1986 chính là “Cởi trói văn nghệ”. Sự xuất hiện trở lại của nhiều nghệ sĩ thuộc diện “nhạy cảm”; sự ra mắt của nhiều tác phẩm từng bị xem là gai góc như “Hà Nội trong mắt ai”; sự trở về của lực lượng hùng hậu văn nghệ sĩ hải ngoại và cả sự bùng nổ táo bạo của văn hoá đại chúng mang đầy hơi thở tuổi trẻ đã cho thấy “Cuộc cởi trói văn nghệ năm 1986” đã thành công vượt sức mong đợi.

Phải thừa nhận, sau Đổi Mới 1986, không khí sinh hoạt văn nghệ ở Việt Nam đa dạng hơn rất nhiều. Đặc biệt, các khâu thủ tục, cấp phép cũng được tinh giản lại và vượt trên hết, kiểm duyệt đã mềm mại hơn, khiến người nghệ sĩ sáng tạo được dễ thở hơn. Tính đa dạng cũng mở ra nhiều lựa chọn tiếp cận hơn cho công chúng và thị trường văn nghệ đã không còn “một màu” nữa. Nhưng chính sự đa dạng ấy cũng đã khiến giới nghệ sĩ ngày càng khó tạo nên tiếng vang hơn. Nếu như ở 40 năm trước, một tác phẩm “tương đối gai góc” sẽ được xem như một điểm nhấn lớn mà công chúng lẫn giới phê bình cứ phải xì xầm bàn tán thì ở thời điểm hôm nay, nó hoàn toàn có thể rơi tõm vào quên lãng bởi “để nói những điều tưởng như tế nhị ấy ở thời buổi này chẳng khó”.

Đó chính là vấn đề mà giới văn nghệ Việt Nam cần nghiêm túc đặt ra cho mình ở thời điểm sau Đại hội XIV này, khi mà Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã xem văn hóa như lá cờ đầu trong phát triển. Trong một không khí sáng tạo cởi mở hơn rất nhiều, người nghệ sĩ chạm đến tự do dễ dàng hơn, tại sao các tác phẩm lớn lại không ra đời? Nếu nói không ngoa, thậm chí có một số lĩnh vực, chất lượng tác phẩm còn đang đi xuống trong tương quan so sánh với tác phẩm của các thế hệ đi trước? Điều gì đã khiến các nghệ sĩ không thể đạt được chính kỳ vọng mà bản thân họ đặt ra? Các câu hỏi dằn vặt này còn trở nên day dứt hơn khi đời sống vật chất cũng đã được nâng lên rất nhiều và điều kiện tiếp cận thế giới, từ thông tin, chủ thuyết cho tới công nghệ cũng thoải mái, tiện nghi hơn nhiều.

Có thể nói, chính các nghệ sĩ đã và vẫn đang tự trói mình trong hành trình kiếm tìm một điểm nhấn thực sự cho đời sống sáng tạo vốn dĩ đòi hỏi nhiều nỗ lực. Tham vọng nổi danh luôn là một tham vọng chính đáng mà nghệ sĩ nào cũng có, chỉ có điều họ có biểu đạt nó ra bên ngoài hay không. Nhưng cũng chính tham vọng nổi danh đó nhiều khi đã khiến con người nghệ sĩ đánh mất đi chính định hướng ban đầu của mình: chinh phục vẻ đẹp của nghệ thuật.

Hãy hình dung đơn giản về đời sống số hôm nay, chúng ta sẽ thấy áp lực của danh vọng lớn đến chừng nào và người nghệ sĩ đang phải chịu đựng gì trong áp lực đó. Khi mà sự đánh giá của công chúng dựa trên các nấc thang số hoá như lượt nghe, lượt xem, lượt tương tác, rất nhiều nghệ sĩ sẽ dần trở nên tự ti khi tiếng nói đích thực và có giá trị của họ lại không hợp nhãn-nhĩ đám đông và lọt thỏm trước thành công của những thứ dễ dãi khác. Không khó hiểu khi một người xứng tầm chuyên gia ở một lĩnh vực nào đó nói ra ít được người nghe theo tham khảo hơn là quan điểm của một người ngoài ngành nhưng lại “trót” nổi danh trên mạng. Từ đó, nhiều chuyên gia, nghệ sĩ đích thực thu mình lại, sinh hoạt trong một công chúng cực hẹp và gần như không còn muốn cất tiếng trước cộng đồng. Đó chính là sợ dây trói vô hình mà họ đã tự buộc mình. Để cởi sợi dây trói đó, ngoài họ và sự can đảm của họ ra, sẽ không có ai có thể thực hiện được.

40 năm trước, tác động tích cực để văn nghệ sĩ bùng nổ trên các diễn đàn đến từ khách quan, tức là công cuộc Đổi Mới của Đảng thực hiện và dẫn dắt. 40 năm sau, trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây không chỉ là một dấu mốc quan trọng của riêng lĩnh vực văn hóa, mà còn là một quyết sách chiến lược có ý nghĩa đặc biệt đối với tiến trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Cơ chế, chính sách đã có, giờ đây để có tác phẩm lớn chỉ còn phụ thuộc vào ý chí và tài năng của người nghệ sĩ với đòi hỏi một tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc.

40 năm trước, nỗi khổ sở có thể là việc mưu sinh, là miếng cơm manh áo, là sự “kiểm duyệt”. 40 năm sau, nỗi khổ sở đến từ chính tự thân nghệ sĩ với câu hỏi “Liệu mình có còn dám dấn thân khi phủ đầu mình có thể là những triệu con số của những thứ dễ dãi nhan nhản bên ngoài?”.

Tại Kết luận 230-KL/TW, ngày 5/1/2026, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thống nhất danh sách 29 hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương, hiện cơ chế Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho các hội trên cơ sở nhiệm vụ cụ thể được Đảng, Nhà nước giao. Trong 29 hội quần chúng, có các hội liên quan tới lĩnh vực văn học - nghệ thuật như: Hội Nhà văn, Hội Nhạc sĩ, Hội Nghệ sĩ sân khấu, Hội Điện ảnh, Hội Nghệ sĩ múa… cho thấy Đảng rất quan tâm đến hiệu quả của các hội, sẽ phải đi vào hiệu quả nhằm đạt đến kỳ vọng làm sao nghệ thuật đương đại Việt Nam có được các tác phẩm xứng tầm quốc tế. Những giải thưởng chỉ nhằm tôn vinh các tác phẩm nhạt nhoà theo kiểu phân phối cần phải bị xoá bỏ bởi chính nó tạo ra một vùng an toàn cùng danh tiếng giả tạo cho rất một số nghệ sĩ lười biếng. Đã đến lúc phải hình thành tập quán “tôi sáng tác ra không phải để đạt được cái gì đó (như giải thường chẳng hạn) mà phải để chinh phục được những thách thức nghề nghiệp”.

Sau Đổi Mới 1986, chúng ta có một loạt các văn nghệ sĩ với những tác phẩm sân khấu, văn học, âm nhạc gây tiếng vang như: Lưu Quang Vũ, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Dương Thụ, Nguyễn Cường… và rất nhiều cái tên khác nữa. Chính họ đã tự vượt thoát mình rất mạnh mẽ sau khi được khách quan tạo điều kiện. Còn hôm nay, khi điều kiện khách quan bày ra vẫn luôn sẵn sàng, nhưng chính văn nghệ sĩ dường như vẫn chưa dám mạnh mẽ tự đổi mới để có tác phẩm lớn.

Nghệ sĩ, trước cám dỗ của danh lợi có được từ xu hướng quan tâm chóng lỗi thời (trend) và thử thách đầy nhọc nhằn để chứng minh năng lực thăng hoa của mình, cũng như góp một phần cho năng lực thăng hoa người Việt, sẽ lựa chọn thế nào? Bước ra ngoài “trend” và bước vào trong nhân gian, bước vào trong thời cuộc, đó hoàn toàn là lựa chọn cá nhân.

Đại hội XIV hứa hẹn mở ra một kỷ nguyên mới cho rất nhiều lĩnh vực mà trong đó, văn hóa văn nghệ vẫn được chú trọng nhất. Vậy thì còn chờ gì nữa, những người nghệ sĩ dũng cảm như “chàng tuổi trẻ trên chiếc đu bay”? Tự cởi trói mình, và sẽ có lúc tác phẩm sẽ vang lên để đánh dấu thời cuộc của mình.

Phạm An- Đức Hoàng - Hà Quang Minh
.
.
.