Yêu cho biết sao đêm dài
Khu điều dưỡng ở xã Ninh Xá, Thuận Thành, Bắc Ninh, có một khu gồm 27 gia đình thương binh. Trong đó, 24 gia đình có chồng mất sức lao động từ 81% trở lên, còn vợ là nhân viên của khu điều dưỡng. 3 nhà còn lại thì cả chồng và vợ đều bị thương nặng.
Nhịp sống ở "làng thương binh"
Khi tôi đến làng thì gặp ông Lại Cao Cử đang làm ổ rơm cho gà. Giờ ông chỉ làm được những công việc nhẹ nhàng như vậy thôi, vì cái cột sống không cho phép ông làm việc nặng nữa, trái gió trở trời là nó đau nhức. Khách đến, ông dừng tay vào nhà rót nước. Ông nói nếu không vì hai con đang còn học đại học thì ông cũng chẳng phải động tay động chân nữa. Cho con đi học, hai vợ chồng sẽ khó khăn. Nhưng vẫn phải cố gắng, vì chúng là kết quả của tình yêu vô biên giữa ông và bà Nguyễn Thị Kim Phương, vợ ông. Các con chẳng những là máu mủ, là điểm tựa tinh thần, là niềm an ủi của hai ông bà mà còn là hai bông hoa thơm đang khoe sắc.
Nói về hai con, ông Cử vui lắm, bỏ giấy khen của chúng ra khoe. Tất cả những giấy khen của hai con từ lớp bé đến lớp lớn đều được ông gìn giữ cẩn thận, lúc nào đó hai vợ chồng bỏ ra nhìn cho đỡ nhớ, vì chúng học ở tận Hà Nội. Bà Phương vợ ông là người phụ nữ hiền lành, đảm đang và rất mực yêu chồng yêu con. Bà là người đứng mũi chịu sào, phải lo kinh tế chu cấp cho con ăn học. Ngoài công việc điều dưỡng viên ở trung tâm, bà còn làm nhiều việc khác nữa để có thêm thu nhập, đồng thời sống tiết kiệm để mai này hai con mở mặt với đời.
Ngay sát căn nhà của ông Cử là mái ấm của ông Nguyễn Văn Yểng và bà Nguyễn Thị Lịch. Các con của ông bà giờ đã trưởng thành, đi làm. Anh con trai lớn hiện làm về ngân hàng ở thành phố Bắc Ninh, đã xây dựng một ngôi nhà khang trang định đón bố mẹ ra ở. Nhưng ông Yểng đau yếu luôn, không thể bỏ trung tâm điều dưỡng. Hiện ông còn một viên bi từ quả bom Mỹ trong xương sống. Các dây thần kinh đã quấn chặt viên bi, không gắp ra được. Viên bi đó chẳng những cướp đi sức khỏe của ông mà còn làm ông bị liệt một chân. Ông bà vừa dứt ra khỏi công việc mổ lợn, vì chẳng phải lo lắng nhiều cho miếng cơm manh áo như trước nữa.
Bà Lịch vui mừng nói: "Chúng nó thành đạt, vợ chồng tôi vui lắm. Cuối cùng cũng không phải vất vả đêm đêm đi mổ lợn. Tôi cũng đỡ lo cho ông ấy, ông ấy đau, tôi cũng đau". Ông bà bảo tôi, giờ đến với khu chung cư dành cho những đôi vợ chồng này sẽ thấy bình yên hơn trước. Vì nhiều cặp vợ chồng đã lo liệu xong cho con cái. Nên họ đỡ vất vả hơn, đỡ phải lao đao chạy kiếm miếng ăn từng ngày, gồng lên với những cơn đau thể xác. Lại nữa, chế độ của Đảng và Nhà nước đối với những thương binh nặng ngày càng tốt, cho nên cuộc sống đôi phần được cải thiện.
![]() |
| Ông Nguyễn Văn Yểng và vợ. |
Nhịp sống thường ngày của trung tâm điều dưỡng đã quen với hình ảnh của bà Nguyễn Thị Phong cũng đã để lại đôi bàn tay ở tuyến đường Trường Sơn năm 1967, khi vừa tròn 20 tuổi. Tại trung tâm điều dưỡng, cô gái trẻ đã gặp anh Hà Văn Chuẩn, thương binh bị liệt cả hai chân. Họ yêu nhau rồi nên vợ nên chồng. Bình thường bà có thể vo gạo, giặt giũ, tắm rửa bằng chân và khuỷu tay. Song lại không thể ôm ấp, nâng niu cho con bú. Những thương binh trong khu điều dưỡng đã thay nhau giúp. Ba đứa con của họ lần lượt ra đời. Cách giáo dục con của những người có hoàn cảnh khó khăn như ông bà thật đặc biệt. Khi bà dùng cùi tay để kéo nước giếng và dùng chậu giặt quần áo, bà cho con ngồi chơi xem mẹ làm. Giặt giũ xong, bà lấy cùi tay nâng cậu con trai mới 2 tuổi rưỡi lên cao, để cậu giúp mẹ phơi quần áo. Ông Chuẩn đã mất được hơn 10 năm, nhưng những đứa con của ông bà đã kịp trưởng thành. Bà Phong đã dùng cùi tay của mình, "nâng" gia đình mình lên thoát khỏi khó khăn, và cũng bằng cùi tay kiên cường ấy đã "nâng" các con, cho chúng học hành nên người.
Những tình yêu để đời cảm động
Thực sự, nghe những cặp vợ chồng kể, tôi không khỏi rơm rớm nước mắt. Và, một nỗi đau xót sộc vào tim, là thấy giờ đây con người ta tính toán quá, yêu đương cưới xin phần nhiều có chủ đích, rất khó tìm ra tình yêu đích thực. Nhưng ở trung tâm điều dưỡng này lại khác. Họ là những tấm gương về tình yêu không vụ lợi. Ban đầu phải kể đến đôi vợ chồng ông Hoàng Văn Uyên và bà Trần Thị Hồng.
Trong căn nhà tập thể đầy huân chương kháng chiến, bằng khen của những lần đoạt giải giọng hát hay, bà Hồng kể chuyện cuộc đời của mình: "Tôi sinh ra và lớn lên ở miền quê Hương Sơn, còn ông ấy ở Kỳ Anh (Hà Tĩnh). Tôi đi thanh niên xung phong nhập vào Binh đoàn 12, làm nhiệm vụ trên tuyến đường Trường Sơn. Năm 1968, tôi bị thương và ngất đi. Tỉnh lại thấy mình cụt mất 2 tay. Lúc đó, tôi và ông Uyên đã yêu nhau. Định không báo tin cho ông ở chiến trường B, chỉ mong người ấy quên mình đi. Thế nhưng Uyên của tôi vẫn lặn lội đến tận đoàn an dưỡng tìm". Ông Uyên nói rằng mình không thể bỏ bạn. Vì cô ấy đã là một phần đời của mình. Dù chiến tranh khốc liệt và chưa biết đến ngày nào thống nhất đất nước, hai người đã quyết định cưới nhau giữa chiến trường.
Năm 1970, bà Hồng về khu điều dưỡng này. Ông Uyên dính bom gần, bị nặng tai nên xin ra quân và chuyển công tác về khu điều dưỡng để tiện chăm sóc vợ, sinh con. Giờ cả hai con trai của ông bà đã trưởng thành. Anh lớn tốt nghiệp ĐH Sư phạm, hiện là giáo viên Toán trường chuyên Bắc Ninh, cậu thứ hai tốt nghiệp ĐH Giao thông vận tải. Tình yêu của họ trải qua sự khốc liệt của chiến tranh, sự vất vả của cuộc sống thường nhật, vẫn vẹn nguyên như ngày mới yêu. Hoàn toàn có thật, chứ không phải chỉ trên phim ảnh, trong tiểu thuyết. Hằng ngày, ông Uyên vẫn tự tay chải tóc, tắm rửa, thay quần áo và bón từng thìa cơm cho vợ. Bà Hồng cảm động nói: "Tôi là người hạnh phúc vì còn được có chồng và con. Nhiều người bạn của tôi đã không thể trở về".
Nói về tình yêu cảm động không thể không nhắc đến đôi vợ chồng ông Nguyễn Văn Yểng và bà Nguyễn Thị Lịch. Ông Yểng quê Mỹ Đức (Hà Tây cũ), nhập ngũ năm 1961. Tháng 4/1969, trong một lần hành quân cùng đơn vị ở chiến trường B3, ông bị thương do bom bi và được đưa về điều trị ở Đoàn an dưỡng 225 (Hà Bắc). Ông trải qua nhiều cuộc phẫu thuật nhưng vẫn không lấy được viên bi trong cột sống. Tháng 6/1976, ông được đưa về Khu điều dưỡng thương binh nặng Thuận Thành, gắn bó đến giờ. Tại đây chàng thương binh quê lụa gặp cô hộ lý người Ninh Xá dịu dàng. Yểng đau yếu liên miên, cũng lo sợ chẳng ai lấy. Qua mấy lần chuyện trò, cảm mến, ngày đó cũng vì chàng thương binh đẹp trai mà Lịch xiêu lòng. Họ dành tình cảm cho nhau, nhưng chàng thương binh lo sợ người yêu vì mình sẽ khổ, nên lương tâm đã diễn ra những đấu tranh. Cuối cùng, cô hộ lý đã quyết, chàng thương binh không thể từ chối một tình yêu chân thành như vậy.
Vượt qua mặc cảm đó lại gặp sự ngăn trở của gia đình người yêu. Gia đình Lịch nằng nặc ngăn cản con gái vì như vậy là trao thân cho một người tàn phế. Họ lo sợ bị như vậy không có khả năng sinh con, sợ con gái vất vả. Rồi họ cũng vượt qua tất cả vì sự quyết tâm và tình yêu của người con gái. Năm 1977, Khu điều dưỡng đứng ra tổ chức đám cưới. Hai đứa con, một trai một gái lần lượt ra đời.
Sau đám cưới là phải đối mặt với khó khăn. Bà Lịch phải vận động tìm thêm nguồn sống. Ngày nghỉ bà đạp xe lên Hà Nội lấy hàng về bán. Sau thấy chẳng thay đổi được gì, bà đi học cách mổ lợn. Chiều hôm trước đi mua lợn, 3 giờ sáng hôm sau dậy một mình mổ lợn và pha thịt sẵn cho chồng bán trước cửa khu điều dưỡng rồi đi làm. Lúc đó, ông Yểng trở dậy ngồi xe lăn, nói chuyện với vợ cho vui vẻ, mà không ngơi cảm động. Cứ vậy dù nắng mưa sấm chớp, chàng thương binh cặm cụi ngồi trên xe lăn bán thịt.
Trả ơn ông bà là hai đứa con đều chăm ngoan học giỏi, thi đỗ vào đại học. Những đồng tiền thấm đẫm mồ hôi góp nhặt từ việc thịt lợn đã được đền đáp. Hai con tốt nghiệp ra trường, xin được việc làm. Bà Lịch đã nghỉ luôn việc thịt lợn để có nhiều thời gian chăm sóc chồng hơn. Anh Nguyễn Văn Hoàn, con trai ông bà đã lập gia đình riêng, có hai con và mỗi tháng lại đưa về chơi với ông bà nội hai ngày. Nói về bố mẹ mình, anh xúc động: "Tôi không tìm thấy tình yêu nào mạnh mẽ hơn tình yêu của bố mẹ tôi và các cô chú ở trung tâm này. Tình yêu và công lao của bố mẹ là niềm động viên, khích lệ cho vợ chồng, con cái tôi. Điều đó cũng dạy cho tôi phải sống nhân nghĩa, thủy chung". Cô con dâu thì nói: "Bố mẹ chồng tôi thật tuyệt vời!".
Tình yêu vượt qua thử thách và rào cản, đó là tình yêu của "tín hiệu ban đầu" giữa ông Lại Cao Cử và bà Nguyễn Thị Kim Phương. Bà Phương đi học ở Sài Gòn, có về trung tâm thực tập, làm vật lý trị liệu giúp anh em thương binh. Chàng Cử ngày đó bị thương nặng ở lưng, chỉ nằm một chỗ. Sau này trở lại làm việc, cô điều dưỡng viên trẻ Kim Phương đã dớn dác tìm Cử, người mà trước đó mình đã chăm sóc. Kim Phương lúc đó là con của gia đình gia giáo, bố là Phó hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lao động thương binh và xã hội. Thế nhưng, vì tình yêu không biên giới, mọi rào cản, ngăn cách đã được xóa bỏ. Kim Phương đã cúi xuống, yêu thương lấy cuộc đời đó, để làm nên mái ấm bây giờ.
Nói về vợ mình, ông Cử tâm sự: "Năm 1983 chúng tôi cưới nhau, bà ấy đã cho tôi hạnh phúc. Những ngày đau nhức, bà ấy tận tình chăm lo. Ngày cưới nhau xong cũng nấu rượu, nuôi lợn. Tôi đau lưng không bưng bê nặng được, nấu cám thì dùng gáo múc nước, cho lợn ăn thì múc ra chậu được đặt trên chiếc lốp ôtô rồi kéo vào cho lợn ăn. Năm 1994 thì chúng tôi nghỉ".
Ông Đinh Văn Sáu, Giám đốc Khu điều dưỡng thương binh nặng Thuận Thành nói: "Ở đây có rất nhiều cặp vợ chồng đặc biệt. Tình yêu của họ khiến không chỉ chúng tôi mà thế hệ con cháu họ cũng hết mực kính phục. Đó là chuyện thương binh lấy nữ hộ lý, điều dưỡng. Một số người không có khả năng sinh con. Nhiều người khuyên vợ đi "xin" người khác để sinh con. Rồi những đứa trẻ của lòng cao cả ra đời. Các anh lại hết lòng săn sóc, nâng niu như chính đứa con mình dứt ruột đẻ ra".
Thay lời kết
Tôi sẽ chẳng thể nào tả hết vẻ đẹp của những tình yêu ấy. Tình yêu cao cả và vô biên. Gần 40 năm trôi qua, làng thương binh đã xuất hiện thế hệ thứ hai, thứ ba. Những đôi vợ chồng, những người thương binh đã coi đây là ngôi làng quen thuộc của mình. Bao nhiêu năm tháng họ đã chiến đấu, chịu đựng gian khổ, để lại phần máu thịt của mình ở chiến trường. Giờ về lại cộng đồng, cuộc sống, họ vẫn sống xứng đáng là Bộ đội Cụ Hồ, là những người nhân nghĩa, làm nên những bông hoa đẹp, những mùa hoa đẹp.
Tạm biệt họ, tôi thấy những nụ cười rạng rỡ bung nở ở mỗi ngôi nhà khi họ tiễn tôi, hẹn ngày gặp lại. Bởi vì, dù sao đi nữa, những người thương binh vẫn rất cần những người bạn xa để mang thêm hơi thở cuộc sống từ bên ngoài, làm một thứ quà tặng cho người ngồi trên xe lăn

