Kỷ niệm 63 năm Ngày Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2-9:

Trí thức Việt

Thứ Sáu, 05/09/2008, 18:45
"Như nước Việt ta từ trước, Vốn xưng văn hiến đã lâu" - Trong "Đại cáo Bình Ngô" viết từ hơn 500 năm trước, danh nhân Nguyễn Trãi đã từng sảng khoái ghi nhận như thế. Nhìn nhận trong suốt lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, để xây dựng nên một nền "Văn" (thư tịch, sách vở) xứng đáng, không ở thời đại nào mà chúng ta không quan tâm vun vén tới việc bồi dưỡng những người hiền tài (Hiến).

Dễ hiểu là với một tâm thức chung anh minh như vậy, vai trò của người có chữ, hay người trí thức theo cách gọi thời nay, luôn được tôn vinh xứng đáng. Về phần mình, trí thức Việt chân chính ở mọi thời luôn ưu thời mẫn thế, quan tâm trước hết tới công việc của người dân.

Phải có danh gì với núi sông

Nếu hiểu theo nghĩa đúng đắn nhất, làm quan là để giúp đời, giúp được đời thì tức là cũng giúp được bản thân mình và những người ruột thịt, họ hàng… Mà muốn làm quan thì phải có chữ, phải học chữ. Người Việt luôn luôn trọng chữ, trọng tri thức bởi vì nhìn thấy trong đó lối thoát khỏi bần hàn đời thường.

Trong tư duy người Việt xưa, làm quan có nghĩa là có thể cải thiện cuộc sống một cách cực kỳ đáng kể. Chính vì thế nên ngay cả trong quá khứ xa xôi, khi những điều kiện vật chất cực kỳ kham khổ, truyền thống này vẫn luôn được duy trì: "Nghề đáng trọng nhất là nghề dạy học. Trong các làng bao giờ cũng có một nhà giàu hay một họ lớn đưa thầy về dạy con cái. Nhà thờ họ thường được dùng làm lớp học. Trẻ con trong họ đến học đọc, học viết, đọc thuộc lòng các bài kinh sách, những người khá hơn thì được làm văn bài theo đề tài nho học, tập làm thi phú để chuẩn bị đi thi.

Nhà nước không hề phải lo việc tài trợ cũng như bổ nhiệm thầy giáo cho các trường đó, mà hoàn toàn do sáng kiến tư nhân. Các quan coi việc học chỉ phải lâu lâu tổ chức một kì khảo hạch để kiểm tra trình độ học sinh, chọn những người có thể dự thi.

Việc học được coi trọng khiến nơi nào cũng mở trường. Nhà trường rất gần gũi nên mỗi gia đình dù nghèo mấy cũng cố cho con em đến trường (tất nhiên là con trai) để kiếm dăm ba chữ. Khi một đứa trẻ tỏ ra sáng dạ, cả gia đình phải hy sinh để cho nó được học đến nơi đến chốn, và thông thường có cả sự đóng góp của họ hàng. Một người làm quan cả họ được nhờ…" (dẫn theo học giả Nguyễn Khắc Viện trong sách "Bàn về Nho giáo").

Trong cách hiểu của người Việt nói riêng và phương Đông nói chung, những người có chữ đủ để trở thành tài năng trong một lĩnh vực nào đấy hữu ích, có thể "miệng nói tay làm" đều là nguyên khí quốc gia (Tuân Tử từng có câu: "Những người miệng nói tay làm đều là vốn quý của quốc gia"). Và triều đại nào cũng lo lắng tới việc thu hút những người tài ra chung tay xây dựng đất nước.

Ngay từ thế kỷ XI, khi hệ thống phong kiến tập quyền của Việt Nam ta mới ở thời kỳ tương đối sơ khai, triều Lý đã lo lắng tới việc mở khoa thi để tuyển lựa nhân tài. Lê Lợi sau khi đánh thắng quân Minh cũng đã sớm nhận ra tầm quan trọng của việc thu hút hiền tài trong thiên hạ. Trong bài "Chiếu cầu hiền tài" mà vua Lê Thái Tổ sai danh thần Nguyễn Trãi viết năm 1429 có đoạn: "Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền… Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người…".

Và mặc dầu những trớ trêu lịch sử đã dồn đẩy nước ta vào rất nhiều chiến sự để bảo vệ nền độc lập tự do nên các võ tướng luôn luôn đắc dụng hơn cả nhưng không phải vì thế mà các hiền nhân văn hóa và đạo đức lại không có nhiều cơ hội lọt vào mắt xanh của các đấng quân vương. Cũng theo nghiên cứu của học giả Nguyễn Khắc Viện, ở Việt Nam xưa kia "Người quân tử là người có học, có bằng cấp, các thứ hiệp sĩ, võ sĩ đạo, giang hồ kiếm khách không bao giờ được coi trọng. Quan văn bao giờ cũng đứng trên quan võ trong bộ máy nhà nước…".

Rất ít khi các trí thức tài năng ở Việt Nam lại không được trọng dụng, dẫu rằng, trong thời đại phong kiến, không phải quá trình nhập thế nào của các trí thức Việt cũng được kết thúc một cách suôn sẻ, có hậu. Khát vọng chữ đã luôn là không thỏa trong lòng các trí thức Việt Nam, dù ở bất cứ thời nào. Không có chữ thì không có danh, mà đã "Trót mang thân trong trời đất, phải có danh gì với núi sông..." (thơ Nguyễn Công Trứ). Hiểu theo nghĩa tốt, khát vọng lều chõng rất gắn bó với khát vọng giúp đời, giúp nước. Trong những điều kiện lịch sử đã có, đó cũng là một khát vọng trí thức chân chính.

Trí thức thời hiện đại

Theo quan niệm của chúng ta hiện nay, trí thức không chỉ là những người có bằng cấp. Danh sẽ không có nghĩa gì nếu không tương xứng với thực. Trí thức, trong nhận thức Việt Nam hiện đại, là những người lao động tri thức, bất kể họ hoạt động trong lĩnh vực nào.

Lao động tri thức khác với các loại lao động khác ở đặc điểm biết kế thừa, sáng tạo tri thức và phương pháp nên tạo ra sản phẩm có năng suất mới, chất lượng mới cao hơn. Họ là những người học tập suốt đời. Do thực trạng giáo dục, đào tạo và quản lý nhà nước hiện nay nên không thể căn cứ vào tiêu chí bằng cấp, chức vụ, học hàm, học vị mà gọi họ là trí thức một cách đại trà.

Chính vì thế nên trước mắt, những người lao động trong các lĩnh vực công nghệ cao, các ngành thuộc về kinh tế tri thức ở lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cũng như trong hoạt động lãnh đạo và quản lý có tính sáng tạo và đáp ứng được những tiêu chí nhất định về trí lự và hành xử đều thuộc về đội ngũ trí thức Việt.

Trong bài phát biểu ngày 17/7 bế mạc Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhấn mạnh: “Với tầm nhìn chiến lược, Đảng ta vừa quan tâm xây dựng đội ngũ trí thức hiện có, vừa chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức cho giai đoạn tiếp theo, thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, tạo môi trường để đội ngũ trí thức phát triển và phát huy vai trò trên mọi lĩnh vực. Cho đến nay, đội ngũ trí thức Việt Nam đã có bước phát triển nhanh về số lượng, nâng lên về chất lượng và đã có nhiều đóng góp xứng đáng vào thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới đất nước”.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng thẳng thắn nhìn vào sự thật: "So với yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng khoa học và công nghệ hiện nay, đội ngũ trí thức nước ta còn có khoảng cách cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu; một số còn tâm tư, vướng mắc, một số chịu tác động của các mặt tiêu cực trong xã hội, có trường hợp tự hạ thấp phẩm giá của mình. Công tác xây dựng đội ngũ trí thức vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm".

Theo Tổng Bí thư Đảng, quan điểm nhất quán của chúng ra vẫn là "coi trí thức là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững. Xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó trách nhiệm của Đảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định, đồng thời cũng là vinh dự, bổn phận của chính trí thức. Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, tạo điều kiện và môi trường cho hoạt động nghề nghiệp của trí thức, trọng dụng đúng trí thức, có chính sách đặc biệt đối với nhân tài".

Đề cập tới những dự kiến tương lai, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cho rằng: Từ nay đến năm 2020, chúng ta phải phấn đấu theo mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, số lượng đông và cơ cấu hợp lý, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ của trí thức các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới...

Chính Nhân
.
.
.