Các nhà nho Việt Nam: Yêu như thế nào?
Nhà Nho, một mẫu nhân vật trí thức đã từng tồn tại và đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình lịch sử của xã hội Việt
Vả chăng, hẳn cũng không mấy ai trong số chúng ta - những con người của ngày hôm nay - lại tự đặt cho mình câu hỏi ấy. Ta quen hình dung về nhà Nho theo hai kiểu diện mạo. Hoặc là nghiêm trang đĩnh đạc, trí lự thâm viễn, đầy tinh thần xả thân thủ nghĩa, hết lòng vì nước, vì dân, nêu một tấm gương đạo đức ngời ngời.
Hoặc là rất ư cũ kỹ, nhếch nhác, bảo thủ, ương gàn, lẩm cẩm, đại diện cho một thứ lực cản đáng thương và đáng buồn cười đối với sự đi lên của xã hội văn minh. Trong cả hai trường hợp, đều có vẻ như chẳng mấy thích hợp nếu ta bàn đến chuyện luyến ái của nhà Nho. Thậm chí, có vẻ như mẫu nhân vật trí thức này đã bị gạt ra ngoài rìa mối bận tâm về cái sự vân vi muôn đời của nhân loại.
Nhưng, với tư cách là con người sống trong xã hội người, không lẽ nhà Nho không hề biết đến, không hề được nếm trải cái vị đắng hoặc vị ngọt đặc trưng của "tâm trạng khi yêu"?
Chúng ta hãy thử cùng đọc bài thơ sau: "Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng/ Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng/ Ngoài ấy dù còn áo lẻ/ Cả lòng mượn đắp ấm hơi cùng". Xin mạo muội (loàn đan) có lời hỏi cô: nơi cô, nếu còn đơn chiếc, thì hãy rộng lòng thương kẻ lạnh lùng này, cho mượn manh áo lẻ rồi đắp cùng nhau để chung hơi ấm. Đích thực là một lời tỏ tình. Rất duyên dáng, rất tế nhị, rất lả lơi, rất đằm thắm, và rất tình.
Thơ nào vậy? Xin thưa, đây là một bài rút từ mục “Thơ tiếc cảnh” của Quốc âm thi tập, và tác giả của nó, không ai khác ngoài Nguyễn Trãi - người được coi là Thái Sơn, Bắc Đẩu trong rừng Nho thế kỉ XV, nhà hoạch định chiến lược cho việc thiết lập một nhà nước Đại Việt Nho giáo hóa.
Không thể có lời đáp chính xác cho câu hỏi về nhân vật "khách lầu hồng" được nói tới ở bài thơ này, nhưng chắc rằng, để viết được những câu thơ tình tứ đến dường ấy, nhà Nho Nguyễn Trãi đã phải thực sự yêu, thực sự sống trong cái cảm thức riêng có của kẻ đang yêu ở mọi nơi và ở mọi thời. Một phản chứng trước cái định lệ trong nhận thức, rằng đã là nhà Nho thì không biết yêu!
Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, trong toàn bộ trước tác của Nguyễn Trãi, rộng hơn, trong toàn bộ văn chương Nho giáo Việt Nam cho đến trước thế kỷ XVIII, những bài thơ như trên là cực kỳ hiếm hoi (nó có vẻ như nhà Nho đã làm thơ tình do... bạo phổi đột xuất!).
Dễ hiểu thôi. Xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, trong sự hình dung phổ quát của nhà Nho, quan hệ giữa một người nam và một người nữ (không cùng huyết thống) một cách chính danh, chỉ có thể là quan hệ hôn nhân chứ không có quan hệ tình nhân.
Mà trong hôn nhân, mối quan tâm thực sự, được đề cập một cách công khai, được điển phạm hóa qua lễ giáo Nho giáo thì lại chỉ bó hẹp vào mục đích "tái sản xuất ra bản thân đời sống" (nghĩa là... duy trì nòi giống). Không có chỗ cho thứ tình cảm tương tự như cái mà ngày nay ta gọi là tình yêu.
Hoặc giả nếu có chăng nữa, thì cái quan niệm "văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí" của Nho giáo lập tức chắn một bức tường sừng sững trước nhu cầu bộc lộ cảm xúc yêu đương bằng văn chương của tác giả nhà Nho. Văn, là để nói những chuyện thế đạo nhân tâm, những việc quốc gia đại sự, chứ không phải dành cho dăm ba điều ái tình lặt vặt! Tất cả những nguyên do này giúp ta hiểu tại sao trong văn chương của nhà Nho Việt
Từ thế kỷ XVIII trở đi, tình hình đã khác. Những biến động mạnh mẽ trong lòng xã hội Việt
Ngay trong thế kỷ XVIII, thi đàn Việt Nam đã xuất hiện hai tập thơ lạ, là "Khuê ai lục" của Ngô Thì Sĩ và "Đoạn trường lục" của Phạm Nguyễn Du. Lạ, không phải vì cả hai đều là thơ chồng khóc vợ. Mà lạ, vì tiếng khóc ở đây tột cùng ai oán bi thương, tiếng khóc nhỏ máu giống của người tình nhân mất tình nhân hơn là tiếng khóc của người chồng mất vợ.
Bài "Đề minh tinh hậu diện nhất tuyệt" (Bài thơ tuyệt viết ở sau cái minh tinh) của Phạm Nguyễn Du chẳng hạn: "Tôi với nàng chính là một người/ Sao đang sum họp lại chia lìa nhau như thế?/ Nàng đem một nửa là hương thơm thanh sạch đi rồi/ Để một nửa là thân tôi như điên dại này ở lại" (dịch nghĩa từ nguyên tác chữ Hán). Ta hãy lưu tâm nhiều hơn đến hai câu cuối bài thơ.
Nếu ta nhớ rằng phải gần hai trăm năm sau, trong thơ của lớp tác giả tây học rất mô - đéc mới có câu "Người đi chiếm hồn tôi một nửa/ Một nửa hồn kia hóa dại khờ", thì mới thấy là cường độ tình yêu ở học trò cụ Khổng, cụ Mạnh không hề thua sút chút nào so với bọn hậu bối!
Thi đàn Việt Nam thế kỉ XIX có một tác giả khá đặc biệt - tiếc rằng cho đến nay ông vẫn chưa được đánh giá đúng mức - là Dực Tôn hoàng đế, tức vua Tự Đức. Ai đã từng đọc những lời phê của Tự Đức trong bộ "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" sẽ thấy chất nhà Nho trong ông cực đậm.
Nhất là ở những đoạn ông phê về chuyện quan hệ nam nữ trong các triều đại trước, thì không hồ nghi gì nữa, đó là quan điểm đạo đức của một nhà Nho rất nghiêm khắc. Vậy mà Tự Đức cũng chính là tác giả của bài "Khóc Thị Bằng" được ông Trần Trung Viên chép lại trong "Văn đàn bảo giám".
Bài thơ có những câu: "Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ Xếp tàn y lại để dành hơi/ Mối tình muốn dứt càng thêm bận/ Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi". Chế độ chuyên chế phương Đông vốn vẫn dành cho bậc đế vương quyền ưu đãi khổng lồ trong việc... chiếm dụng phụ nữ. Để hoàng đế phải khóc một bà phi (đã chết) trong đám phi tần đông đúc ở hậu cung thật chẳng dễ chút nào.
Đã vậy, xót thương đến mức muốn đập vỡ tấm gương nàng vẫn soi ngắm để mong tìm ra khuôn mặt cũ, muốn gom mớ y phục nàng đã từng dùng để hòng giữ chút hương xưa, thì đó quả không còn là sự thương xót bình thường nữa rồi. Đó là một tình yêu đã đến độ khắc cốt ghi tâm.
Trong toàn bộ trước tác của mình, hầu như không một lần thi hào Nguyễn Du tự thể hiện niềm vui hay nỗi buồn cá nhân trước những trải nghiệm được mất khi yêu. Điều đó khiến hậu thế phải day dứt mãi với thắc mắc: có lẽ nào Tố Như... chưa bao giờ biết yêu?
Bù lại, khi xây dựng nhân vật Kim Trọng trong kiệt tác "Đoạn trường tân thanh", ông đã cho ta hình ảnh của một nhà Nho yêu đầy ấn tượng. Gặp nàng Kiều trong tiết thanh minh, chàng Kim bị "tiếng sét ái tình" mê hoặc rồi ngay lập tức mắc tương tư, căn bệnh nan y muôn thuở của loài người.
"Biểu hiện lâm sàng" như sau: "Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao/ Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng/ Phòng văn hơi giá như đồng/ Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan/ Mành Tương phân phất gió đàn/ Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình". Bỏ bê trễ tràng cả đàn với sách, thời gian biểu bình thường của chàng Kim bị đảo lộn. --PageBreak--
Nhưng tương tư suông chẳng giải quyết được gì hết, chàng đã tìm phương án hành động, "tiếp cận đối tượng" bằng cách "lấy điều du học hỏi thuê" một căn nhà sát nhà của người trong mộng. "Tường đông ghé mắt ngày ngày hằng trông", sự "kiên nhẫn nằm vùng" của chàng Kim cuối cùng đã được đền đáp, khi mà - một cách khá cắc cớ - cành kim thoa bỗng đâu lại lọt vào tay chàng!
Tận dụng tối đa cơ hội ngàn năm có một, chàng "phát huy tư duy sáng tạo", thêm vào vật bắt được ấy "xuyến vàng đôi chiếc, khăn là một vuông" để làm "hành trang" lúc gặp lại nàng Kiều (các chàng trai thời nay có lẽ cũng chỉ galăng đến thế là cùng!).
Và tiếp đến là những lời tỏ tình đáng được đưa vào giáo khoa thư về tình yêu: "Rằng, từ ngẫu nhĩ gặp nhau/ Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn/ Xương mai tính đã rũ mòn/ Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay/ Tháng tròn như gửi cung mây/ Trần trần một phận ấp cây đã liều/ Tiện đây xin một hai điều/ Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?".
Ngẫu nhiên gặp nhau đã khiến anh luôn thầm trông trộm nhớ đến em. Tưởng đã rũ mòn vì chờ đợi, ai ngờ còn có cơ hội hôm nay. Thời gian vừa qua, anh đã hạ quyết tâm gặp lại em cho bằng được, dù phải chết cũng chẳng tiếc thân (điển tích "Ấp cây" kể chuyện chàng Vỹ Sinh, người nước Lỗ thời Xuân Thu, Trung Quốc, hẹn với người con gái gặp nhau dưới chân cầu. Người con gái không đến, Vỹ Sinh thủ tín, cứ ngồi đợi mãi, đến khi nước lên to cũng không chịu bỏ đi, cứ ngồi ôm trụ cầu mà chịu chết đuối - HN). Tiện đây, xin hỏi em có đoái thương đến tấm thân bèo bọt này chút nào chăng?
Khi nàng Kiều ngần ngừ "em còn nhỏ lắm, chưa biết gì, phải chờ cha mẹ em quyết định", chàng Kim đã thuyết phục vô cùng khôn khéo: "Sinh rằng rày gió mai mưa/ Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi/ Dầu chăng xét tấm tình si/ Thiệt đây, mà có ích gì đến ai?/ Chút chi gắn bó một hai/ Cho đành, rồi sẽ liệu bài mối manh/ Khuôn thiêng dù phụ tấc thành/ Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời/ Lượng xuân dầu quyết hẹp hòi/ Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru!".
Sự đời thay đổi chẳng biết thế nào, không dễ mà có cơ duyên gặp gỡ như chúng ta đây. Vả lại, nếu thiệt cho chúng ta thì liệu có ích gì cho ai? Chi bằng mình cứ... yêu nhau trước hẵng, rồi anh sẽ "báo cáo" với cha mẹ em sau. Nghe lời cha mẹ quá có khi lỡ mất cả tuổi xuân. Hoặc giả cha mẹ em không bằng lòng, chẳng hóa ra công đeo đuổi của anh vô ích hay sao?
Như vậy đấy, có co có duỗi, có đẩy có kéo, thủ thỉ ngọt ngào mềm mại uyển chuyển, chàng Kim đã thành công trong việc chiếm được tấm lòng của kiều nữ họ Vương. Chẳng khó khăn gì để ta nhận ra, trong khi vào vai kẻ chinh phục trái tim người con gái, chàng Kim đã "bỏ xó" lời dạy của thánh hiền; ứng xử của chàng vượt ra ngoài khuôn phép nhà Nho cứng nhắc để tuân theo cái logic muôn đời của tình yêu đôi lứa!
Trong giai đoạn hậu kỳ của Nho giáo ở Việt
Thêm vào đó, sống trong bầu khí quyển văn hóa mà sự khiên diễn của những "mưa Âu gió Mỹ" ngày một mạnh mẽ, thế hệ các nhà Nho Việt Nam từ Vũ Phạm Hàm, Dương Lâm, Dương Khuê đến Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu càng tỏ ra bạo dạn hơn trong sự thể hiện những cảm xúc đa dạng của tình yêu. Điều đó dễ hiểu, và nó hiển nhiên đến mức thiết nghĩ chẳng cần phải chứng minh.
Điều ta có thể rút ra từ việc tìm hiểu xem các nhà Nho Việt
