Sự bế tắc của "nước cờ Nobel"

Thứ Ba, 21/12/2010, 16:54
Quá khó để tìm thấy "hòa bình" của một trong những đợt trao thưởng gây tranh cãi nhất lịch sử Nobel khiến người ta phải định hình lại nghĩa gốc của nó. Còn quá sớm để nói lợi hại trong một giải thưởng mang màu sắc chính trị rất rõ.

Giải Nobel Hòa bình là một trong năm nhóm giải thưởng ban đầu của giải Nobel. Theo nguyện vọng ghi trong di chúc của Alfred Nobel, Giải Nobel Hòa bình cần được trao "cho người đã có đóng góp to lớn trong việc đẩy mạnh tình đoàn kết giữa các quốc gia, trong việc giải trừ hoặc hạn chế các lực lượng vũ trang và trong việc tổ chức hay xúc tiến các hội nghị hòa bình". Giải Nobel Hòa bình được trao hàng năm vào ngày 10-12, ngày mất của Alfred Nobel tại Thủ đô Oslo của Na Uy.             

Có 19 quốc gia không cử đại diện tới dự lễ trao giải Nobel Hòa bình vào ngày 10/12 vừa qua tại Oslo, Na Uy nhưng con số đó chưa phản ánh đúng thực chất bởi ngay cả những quốc gia có đại diện tới dự cũng không có nghĩa tất cả họ đều ủng hộ một quyết định gây rúng động dư luận quốc tế của Ủy ban giải Nobel. Tuy nhiên, với lịch sử hình thành trên 100 năm kể từ khi giải thưởng này được ra đời và lần lượt trao cho các cá nhân, tập thể tại nhiều quốc gia trên thế giới, người ta có đủ lý do để nhận diện đâu là bản chất thực của Nobel Hòa bình và ván cờ của những người đứng đằng sau cuộc chơi.

Giải thưởng Nobel Hòa bình ở các xu thế và thời đại khác nhau, trường tồn chừng ấy thời gian không phải là ngắn và gây quá nhiều tranh cãi, bên cạnh những điểm sáng thì không ít lần tự nó có vẻ đi quá xa bản chất đích thực. Màu sắc chính trị của những người sử dụng nó lại chỉ có thể đạt được về tiếng vang hơn là tính thực tế bởi một khi người ta không thể tìm thấy giá trị thật sự của giải thưởng thì ý nghĩa của nó hiển nhiên bị suy giảm. 

Giải Nobel Hòa bình là một trong năm nhóm giải thưởng ban đầu của giải Nobel. Theo nguyện vọng ghi trong di chúc của Alfred Nobel, giải Nobel Hòa bình cần được trao "cho người đã có đóng góp to lớn trong việc đẩy mạnh tình đoàn kết giữa các quốc gia, trong việc giải trừ hoặc hạn chế các lực lượng vũ trang và trong việc tổ chức hay xúc tiến các hội nghị hòa bình". Giải Nobel Hòa bình được trao hằng năm vào ngày 10-12, ngày mất của Alfred Nobel tại Thủ đô Oslo của Na Uy.

Có nhiều quan điểm nói rằng, Alfred Nobel đã lập ra giải thưởng này trong di chúc "như một cách đền bù cho các chất nổ phát minh của ông vốn được sử dụng rộng rãi trong chiến tranh như dynamit hay ballistite" nhưng rõ ràng ý nguyện đạt được một nền hòa bình, hòa giải dân tộc và rộng hơn là của nhân loại, hẳn là hàm ý sâu xa trong di chúc của ông. Chắc chắn rằng, trước khi từ giã cõi đời vào ngày 10/12/1896, ông không thể ngờ 1 trong 5 giải thưởng mang tên mình lại trở thành ngòi nổ gây căng thẳng và cái ngày mất của ông thành tâm điểm gây nhiều phiền toái. 

Khách quan mà nói, đã có những giải thưởng Nobel Hòa bình thực sự sát nghĩa với cụm từ này và được nhân dân tiến bộ thế giới đón nhận, tôn vinh. Chẳng hạn, năm 2006, nhà kinh tế học Muhammad Yunus, người Bangladesh và ngân hàng Grameen do ông sáng lập đã nhận giải Nobel Hòa bình vì nỗ lực phát triển kinh tế xã hội cho người nghèo, được thực hiện dưới dạng quỹ tín dụng.

Tên tuổi của ông Muhammad Yunus đã vượt qua lãnh thổ Bangladesh ngay từ khi ông chưa có tên đề xướng giải, và ngay cả với người dân ở xa Bangladesh vốn không nhận được bất kỳ sự trợ giúp vật chất nào từ ông và ngân hàng do ông sáng lập nhưng họ vẫn tỏ rõ sự ngưỡng mộ. Điều đó cho thấy, ý nghĩa của sự liên kết quốc gia vì hòa bình rất rõ.

Nhiều người dự lễ trao giải vì các lý do khác nhau chứ không hẳn là sự ủng hộ.

Năm 2005, giải thưởng này được trao cho Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA và người đứng đầu cơ quan này, đây cũng là sự lựa chọn được cho hợp lý. Song trên bình diện chung, các giải Nobel Hòa bình mỗi giai đoạn lại phản ánh các khía cạnh khác nhau, lúc gần, lúc xa tôn chỉ và định nghĩa "Hòa bình".

Năm 2008, cựu Tổng thống Phần Lan Martti Ahtisaari, được nhận giải vì vai trò làm trung gian hòa giải cho các cuộc xung đột Namibia, Aceh, Kosovo và Iraq còn cựu Phó Tổng thống Mỹ Al Gore được vinh danh cho các thành tích trong việc chống lại biến đổi khí hậu toàn cầu năm 2007.

Như vậy, xét ra ít nhất trong 5 năm gần đây, thì sự kiện ông Lưu Hiểu Ba được nhận giải thưởng là gây tranh cãi nhất. Nhìn lại những diễn biến trước, trong và sau khi giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 2010 được trao cũng như các tiền lệ vốn có của nó, chưa biết cái được cụ thể của việc tôn vinh đó là gì và hữu ích trừu tượng ra sao, nhưng chắc chắn, sự việc này đánh dấu thêm một lần nữa việc áp dụng giải thưởng không đúng nghĩa đã phá vỡ ý nghĩa tự thân của nó và "sự kiện 10-12" kích hoạt mâu thuẫn vốn đang âm ỉ thêm độ nóng.

Có nhiều luận giải xung quanh giải thưởng lớn nhất toàn cầu và cũng có tuổi thọ kỳ cựu này, trong đó có gốc nghĩa của khái niệm hòa bình. Hòa bình, nguyên nghĩa của nó đúng như lời ghi trong di chúc người sáng lập giải. Nhưng theo cái cách làm hiện nay cho thấy khái niệm gốc đang bị xa dần.

Theo ý niệm của Alfred Nobel, người được trao thưởng phải có "đóng góp to lớn trong việc đẩy mạnh tình đoàn kết giữa các quốc gia" thì những cái tên mà Ủy ban giải Nobel trao, hoàn toàn không thấy bóng dáng của "tình đoàn kết" chứ chưa nói mức cao hơn "đẩy mạnh tình đoàn kết".

Lật lại việc trao giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2010 cho ông Lưu Hiểu Ba, người vi phạm pháp luật hình sự Trung Quốc và đang thụ lý bản án 11 năm tù giam. Ông Ba thật ra cũng chỉ là cái tên không mấy ai để ý cho tới khi có tên trong danh sách đề cử, dù rằng ông này có những hành vi và nhân thân phạm pháp mà những kẻ cổ suý cố tình tâng bốc, coi những hành động phạm pháp đó với những mỹ từ có cánh.

Tình đoàn kết giữa các quốc gia, mà trước hết là ngay trong nội tại quốc gia đủ tầm để xứng danh giải thưởng Nobel, nếu xét về đúng nghĩa như mong muốn của bản thân Alfred Nobel, hẳn là những cái tên được người yêu chuộng hòa bình mến mộ. Nhưng cái tên Lưu Hiểu Ba xứng giải chỉ khiến người dân quốc gia sở tại thấy nhiều sự bất ổn.

Động cơ phía sau giải Nobel Hòa bình là gì? Không có sự công khai danh sách thành viên trong Ủy ban giám khảo cũng như các tiêu chí cụ thể để xét giải, nhưng dư luận vẫn hình dung sự thật đằng sau ván cờ được đưa đẩy hằng năm và mang tính quy luật. Nếu xét theo góc độ này, có lẽ những người coi Nobel Hòa bình là xứng đáng với sự lựa chọn theo cách nghĩ của họ thì chưa hẳn đã là sự lựa chọn để có được mục đích như sự cổ suý lâu nay.

Nếu như Tổng thống Mỹ B.Obama năm 2009 bất ngờ vì chính ông được xướng tên trong lễ trao giải, thì với hàng tỷ người khác, họ không khó khăn để nhận biết vì sao người đứng đầu Nhà Trắng nghiễm nhiên ẵm giải thưởng đó mới chỉ sau 9 tháng cầm quyền. Còn một người ở đất nước đông dân nhất thế giới được trao giải, với các nghịch cảnh của hai phía thì rõ ràng ván cờ mang tên Nobel Hòa bình cho thấy quá khó để đạt được giao điểm.

Sự bất lực trong "ván cờ Nobel" khiến giải thưởng trở thành trò ú tim tội nghiệp.

Nhiều lý giải nói rằng, Phương Tây đang lo sợ sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc. Không ngắm được vào kinh tế, thì một chiêu bài không lỗi thời, ấy là dân chủ, nhân quyền. Cần lưu ý rằng, ngày 10-12 có ý nghĩa rất cao đẹp, đó là Ngày Nhân quyền. 62 năm trước đây, vào ngày 10/12/1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền, tài liệu quan trọng nhất về quyền con người và là văn bản đầu tiên thuộc loại này được chấp nhận bởi cộng đồng quốc tế. Để kỷ niệm sự kiện quan trọng này, ngày 10-12 được tổ chức kỷ niệm trên toàn thế giới như là Ngày Nhân quyền. Xứng tên một người gây tranh cãi gay gắt, Ủy ban trao giải coi đó là người  hành động vì nhân quyền, vì dân chủ nhưng khi mà hai mặt "công trạng" hay "tội lỗi" còn mâu thuẫn thì lấy tiêu chí nào để bình xét?

Vấn đề rằng, họ đưa ra một cái tên như thế, liệu có phải nước cờ đạt được mục đích? Xét về luật pháp, một người vi phạm pháp luật hình sự nước sở tại hiển nhiên bị xử lý theo quy định pháp luật của nước đó. Nhưng cốt lõi không nằm ở chỗ người đó bị hay không bị tước bỏ quyền công dân. Lịch sử cho thấy, người bị tước bỏ quyền công dân nếu có những đóng góp thực sự tiến bộ vẫn có thể có những ý tích cực để ngợi ca. Nhưng điều này hẳn không đúng với trường hợp ông Lưu Hiểu Ba.

Sự cổ suý, đánh bóng tên tuổi dựa trên hàng loạt động thái, trong đó đỉnh điểm là việc xướng tên trong giải Nobel Hòa bình có thực sự làm thay đổi bản chất sự việc hay không? Bởi ông Lưu Hiểu Ba với quá khứ khá dày về những hành động phạm pháp như liên đới trong sự kiện ở Thiên An Môn cách đây 21 năm hay những hành động khác như soạn thảo cái gọi là "hiến chương 08"… Tất cả những điều đó của Lưu Hiểu Ba được tô vẽ dưới cái mác nhân quyền, dân chủ, song dù có cổ suý đến mấy thì cần thấy rằng những người như ông ta là rất bình thường, không có tài cán gì và cũng không có cái gì đáng nói cả về nghĩa tiêu cực.

Có thể thấy, nếu không phải là một Lưu Hiểu Ba được lựa chọn, thì khi chủ ý ván cờ năm 2010 đã được định hướng như một mẫu số duy nhất, hẳn sẽ có một cái tên khác tương tự Lưu Hiểu Ba được đưa vào xướng tên Nobel Hòa bình. Tức ông Ba hay ông nào thì cũng chỉ có vậy, mục đích mà những người đứng đằng sau giải được dán nhãn nhân quyền, dân chủ hay tôn giáo - một chiêu bài có tính truyền thống và có vẻ không lạc hậu trước mọi thời kỳ. Như thế, ông Ba chỉ là sự lựa chọn cho một chủ định vì ông có nhiều điều mà giám khảo cần, chứ không phải vì ông Ba thực sự có những nổi trội để Ủy ban xét giải. Nói cách khác, đó là việc tìm người hợp mẫu cho một giải đã được "lên khung", ngược với lẽ thường của bất kỳ giải thưởng nào.

Nhưng qua cái cách mà người ta cổ suý cho cái tên Lưu Hiểu Ba từ mấy tháng trước để rồi cuối cùng chốt lại với quan điểm không đổi, nó cũng cho thấy sự lúng túng nhất định. Có vẻ như không thể tìm ra một nhân vật nào "nổi danh" hơn Lưu Hiểu Ba, kiểu như cái tên Đạt Lai Lạt Ma trước đây nên ứng viên cho giải thưởng này xem ra đang cạn và ông Ba vẫn là sự lựa chọn của giám khảo.

Lại thấy, cách đây 2 năm, người ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy cái tên Thích Quảng Độ được đưa vào ứng viên xét giải Nobel Hòa bình. Mặc dù ông Độ cuối cùng phải "rớt đài" trong cuộc đua giải Nobel nhưng qua đó cũng cho thấy sự lúng túng của Nobel Hòa bình.

Tìm một nhân vật để xứng danh nhân quyền, dân chủ nhưng rốt cuộc chỉ loay hoay bởi cái tên Thích Quảng Độ vốn có hành vi vi phạm luật pháp và lợi dụng hoạt động khiếu nại, tố cáo của người dân. Chân dung ông Độ không có gì đáng nói, vậy mà suốt nhiều tháng trời, bản đề cử Nobel Hòa bình 2008 vẫn không biết làm thế nào để chọn lựa ai thêm, hay muốn đánh bóng, cổ suý cũng không có cách gì khác ngoài mấy cái tài liệu cũ.

Thế cho nên, lần này ở Trung Quốc, ông Lưu Hiểu Ba chẳng có tài cán gì cả hai nghĩa tích cực và tiêu cực lại được nhận giải, nó càng cho thấy sự khác thường trong cách nghĩ và cách chọn "ứng viên Nobel". Hơn nữa, nếu vẫn dùng đến yếu tố dân chủ, nhân quyền mà phải mượn danh đến giải thưởng Nobel - giải thưởng lớn nhất thế giới và có tuổi thọ lâu đời, lợi ích và tác hại mang lại hẳn quá khó cân đo. Trong khi đó, giải thưởng Nobel Hòa bình vì thế cũng tự đánh mất mình, đâu còn là giải thưởng cao quý với ý nghĩa như tên gọi của nó

Đăng Trường
.
.
.