“Người đàn bà hủi” không hận đời bội bạc
"Tôi là Hằng hủi đây, dân làng thường gọi tôi bằng cái tên thân mật như thế đấy". Dù đã đọc nhiều bài báo viết về bà, dù đã xem cả ký sự chân dung về nghị lực sống của người đàn bà mạnh mẽ này, thì khi gặp và nói chuyện với bà, tôi vẫn băn khoăn tự hỏi, không hiểu sao cuộc đời có những câu chuyện kỳ lạ và phong phú hơn cả tiểu thuyết vậy.
Những vết xước đầu tiên
Ngôi nhà đồ sộ này bà Hằng xây từ năm 2001, hồi đó phải mất gần một tỷ đồng. Bà bảo, cuộc đời bà quá nhiều nỗi đau buồn và hận, bà hận tình người chồng bội bạc, hận đời từng phũ phàng, ghẻ lạnh, nên bà muốn hóa giải chữ hận của đời mình, làm cái gì cũng phải hơn người.
Ngay cả ngôi nhà cũng vậy, bà phải xây cho nó thật đàng hoàng, để thiên hạ không còn coi khinh bà. Bà bảo, đôi khi ngồi ngẫm lại cuộc đời mình, bà vẫn thấy nó như một cơn ác mộng, và không nghĩ mình đã từng vượt qua. Có lẽ đây là quãng sống thư thái, bình an nhất của một cuộc đời đã quá nhiều giông bão. Giọng bà trầm trầm, nghe như tiếng vọng từ một quá khứ đã quá xa nhưng không thể quên trong cuộc đời dài dặc của mình.
Tốt nghiệp Đại học Tài chính, Trần Thị Hằng, cô gái miền quê Thái Bình nghèo khó vào chiến trường Tây Nam. Trên đường đi, bà vướng phải mìn suýt chết. Nhưng nỗi đau chiến tranh thực sự hằn vết trong cuộc đời bà trong chuyến hành quân năm 1967. Hai mẹ con bà Hằng chui vào một cái hố tăng xê, nhưng đứa con trai đầu lòng mới hai tuổi của bà đã bị chết ngạt.

Bà Hằng nén nỗi đau và tiếp tục công việc của mình. Bà vẫn còn nhớ như in, những trận bom như trút xuống Hà Nội những năm 1971-1972. Một trận kinh hoàng ở phố Hàng Bạc khiến bà bị vùi lấp trong đống đất cát. Rồi một trận bom dội vào đúng kho quân nhu, sức ép của bom khiến bà mất hết sức lực và không thể tiếp tục làm việc. Năm 1977, bà buộc phải nghỉ việc về quê chồng, với vẻn vẹn 1.200 đồng tiền lương.
Những tưởng một người đàn bà đi qua chiến tranh, chịu nhiều mất mát đau khổ như bà Hằng sẽ được vòng tay ấm áp của gia đình nhà chồng và chồng đón nhận. Không ngờ, vết thương đầu tiên trong tâm hồn bà Hằng là sự giả dối bạc bẽo của người đàn ông bà đã từng yêu thương.
Khổ quá, bà đành phải gửi đứa con trai duy nhất về Thái Bình cho bà ngoại, bươn bả kiếm sống qua ngày. Bà Hằng nén nỗi đau vào trong, cam chịu, nhẫn nhịn. Nhưng đến lúc, bà chửa tám tháng thì bị lên cơn co giật, phải nhờ hàng xóm đưa vào viện, bà Hằng đau đớn phải bỏ cái thai đã gần đến ngày sinh nở, trong một đêm mịt mùng gió buốt. Trở về ngôi nhà của mình, bà nhìn thấy đồ đạc bị đốt hết và tống ra ngoài đường. Chồng bà muốn đoạn tuyệt để lấy vợ khác.
Nỗi đau chồng lên nỗi đau khiến bà Hằng không còn cảm giác muốn sống. Không còn chốn đi về, bà Hằng lê bước như một kẻ tha hương. Bà đành trở về quê mẹ. Mẹ đang ở với chị gái. Bà Hằng đành kết bè chuối dựng lán ở tạm bên cạnh cái ao. Hơn 10 năm, bà sống trong cảnh vô gia cư, không nhà cửa, không hộ khẩu, dân làng cho rằng, bà trốn chúa lộn chồng nên bị đuổi nên tìm cách xa lánh. Chính quyền thì bảo bà về Bắc Ninh quê chồng mà làm giấy tờ. Bắc Ninh lại ấn bà về Thái Bình. Đẩy qua đẩy lại, bà Hằng thành kẻ vô gia cư, không chứng minh thư, không giấy tờ tùy thân, sống lay lắt kiếp sống mỏi mòn.
Nỗi oan mang tên Hằng "hủi"
Chấp nhận sự ghẻ lạnh của làng xóm. Chấp nhận sống lầm lũi không có quyền của một công dân bình thường. Nhưng bà Hằng không thể chấp nhận được đoạn đời cay đắng nhất của mình khi có những ngày tháng, bà bị cả làng ghẻ lạnh, và đồn rằng, bà bị hủi. Cái tên Hằng hủi cũng có từ ngày đó. Đoạn đời cay đắng này, bà chẳng thể quên.
Đó là những năm 80 của thế kỷ trước, bà Hằng làm đủ mọi việc để nuôi Tú Anh, gánh nước thuê, thậm chí cả việc "thế chấp" cậu con trai duy nhất để nhặt nhạnh từng bơ gạo rau cháo qua ngày. Rồi hằng đêm, trở về "ngôi nhà" được dựng lên từ bẹ chuối, bà Hằng chợt nghĩ đến việc sẽ xây cất một cái nhà. Nghe như một viễn cảnh quá xa vời đối với bà Hằng ở thời điểm đó. Đêm đến, lén cho con ngủ ngon giấc, bà lụi cụi dậy đi gánh đất đá đổ đầy vườn. Và đóng gạch. Đôi bàn tay mềm yếu của bà Hằng đã đóng được cả đống gạch hàng vạn viên.
Bà Hằng nhớ lại những chuyện xưa.

Nhưng rồi bàn tay bé nhỏ của bà Hằng bị hoại tử, càng ngày càng teo lại. Bà biết bệnh của mình. Nhưng làng xóm thì không. Một đồn mười. Họ cho rằng bà bị hủi. Và xa lánh. Ghẻ lạnh. Bà Hằng không có giấy tờ nên không thể đến bệnh viện khám. Thế nên, bà đã nghĩ ra cách tự cứu mình, dù đau đớn và nghe có vẻ dã man như thời trung cổ. Nhưng bà không có sự lựa chọn. Nung chiếc dao đỏ và bà nghiến răng, tự chặt từng ngón tay. Một ngón, hai ngón, ba rồi bốn ngón. Cắt xong, bà dùng bồ hóng và vôi quết vào tay cho đỡ bị nhiễm trùng. Máu lẫn trong nước mắt mặn chát khiến bà đau đớn. Nhưng có lẽ những đau đớn về thể xác không thấm vào đâu với tin đồn ác nghiệt của dân làng.
Cả làng cho rằng bà Hằng bị bệnh hủi, Tú Anh đi học bị đám bạn xa lánh, gọi miệt thị, "con mẹ hủi". Hai mẹ con vốn lầm lũi chịu đựng, càng trở nên cô độc, lạc lõng, chỉ mong được yên thân. Nhưng dân quân còn bắt bà trói lại mang xuống Văn Môn, làng cùi. Một vị bác sĩ già sau khi khám đã khẳng định, bà không bị bệnh phong, và trả bà trở về. Nhưng biết về đâu. Bà không còn nước mắt để khóc. Tuyệt vọng, bà Hằng nhảy xuống sông Thạch Hãn tự tử.
Bà còn nhớ trước khi nhảy xuống sông, bà đã viết thư tuyệt mệnh để lại cho mẹ, dặn rằng, "sau này con chết đừng cho Tú Anh vào trại trẻ mồ côi, tội lắm, sẽ không ai thương nó đâu". Nhưng có lẽ số phận đã không cho người đàn bà này chết, mà buộc bà phải sống, và sống một cuộc đời có ý nghĩa.
Bà Hằng may mắn được một dân chài cứu sống. Ông cho bà 1.000 đồng bảo cầm về mua gạo và gắng sống, đừng chết thế cuộc đời vô nghĩa lắm con ạ. Bà Hằng cầm 1.000 đồng trong tay (lúc đó có thể mua được cả một tạ gạo). Bà đi bộ ra chợ, mua mấy bơ gạo xấu nhất chợ và trở về nhà. Bà Hằng lê bước trên con đường nhỏ, vừa đi vừa khóc, rồi ngửa mặt lên trời than: "Sao trời đầy đọa thân con khổ như thế này".
![]() |
|
Bà Hằng giữa ngôi biệt thự của mình. |
Hồi tưởng lại câu chuyện đau lòng đó, bà Hằng ứa nước mắt. Dù ký ức đã đi quá xa, nhưng những nỗi đau vẫn còn day dứt trong tâm hồn người đàn bà vốn cứng cỏi và nghị lực này. Và cũng chính cái đêm lê bước trên con đường quê vắng lạnh đó, bà Hằng nghĩ, mình sẽ bắt đầu lại cuộc đời, từ chính đôi bàn tay cụt và đôi chân teo của chính mình. Giống như bà chợt nhìn thấy ánh sáng phía cuối đường hầm, dù thật xa, dù chỉ là một quầng sáng nhỏ, nhưng đã rọi soi được cuộc đời tối tăm mù mịt của bà Hằng.
Và đoạn kết có hậu
Bằng bàn tay không còn lạnh lặn, và đôi chân bị rút gần hết các khớp, bà Hằng trở về cái ao của nhà mình. Bà gục ngã từ đây, và bà bảo, bà cũng sẽ đứng lên từ chiếc ao này. Cũng phải mất nhiều thời gian và công sức, đến năm 1999 bà mới lấy được cái ao. Một mình bà đập đắp be bờ, mất ba tháng ròng rã, bà Hằng mới dọn sạch ao để bắt đầu thả cá, từ cá bé đến cá lớn. Ao cá bà Hằng nổi tiếng khắp vùng. Còn phía trên trồng cây cảnh. Mọi việc bắt đầu đi vào quy củ, thì một bỗng một đêm ngủ dậy, cơ nghiệp bà dựng lên từ hai bàn tay trắng bỗng chốc tan tành vì một kẻ ghen ăn tức ở đã thả hai kg thuốc sâu vào ao cá bà Hằng. Mùi xú uế bốc lên nồng nặc.
Ông trời lại muốn thử thách lòng kiên nhẫn và nghị lực sống của người đàn bà này chăng. Bà lại bắt tay lại từ đầu, từ cá nhỏ, rồi cá to, hết cá chuyển sang nuôi lợn. Từ 1 con, thành 10 con rồi hàng trăm con lợn. Nhớ lại những ngày khốn khó đó, bà Hằng bảo, nó như câu chuyện thuộc về một thế kỷ nào đó. Biết phận đàn bà một thân một mình, nhiều kẻ lợi dụng chèn ép. Nhiều lúc bà Hằng chấp nhận bán cho bọn họ dù phải chịu thiệt thòi.
Bà còn tận dụng từng khoảng đất, nơi thả lúa hom, nơi trồng rau muống, rồi thả cá, ao vườn lúc nào cũng đầy sức sống. Nhưng niềm vui lớn hơn là cậu con trai, chỗ dựa tinh thần của bà đậu vào Đại học Kinh tế quốc dân và giờ là chủ một công ty TNHH về mối lớn ở Thái Bình. Tú Anh đã có gia đình riêng, và bà đã được tận hưởng niềm vui làm bà nội.
Có lưng vốn, bà Hằng xoay ra buôn bán vàng rồi bất động sản. Tài kinh doanh của một người đàn bà giỏi giang tháo vát khiến cơ ngơi của bà ngày càng lớn lên. Năm 2001, bà quyết định xây nhà. Một ngôi nhà to và đẹp nhất phường. Nhưng bà sẽ không bao giờ quên được một thời gian khổ của mình. Bà Hằng vẫn giữ lại ngôi nhà nhỏ do bà xây nên từ chính đôi bàn tay bị thương tật của mình. Như một kỷ niệm về một quãng đời đẫm nước mắt.
Rồi bà kể về những đứa trẻ mà bà cưu mang. Chúng cũng cùng cảnh ngộ như bà, nhiều đứa giờ đã thành đạt, ra nước ngoài lập nghiệp… Những cái Mai, cái Loan vẫn gọi điện về thăm hỏi người mẹ đã cứu rỗi cuộc đời chúng bằng tấm lòng nhân hậu của mình…
Bà đang viết tự sự về cuộc đời mình và làm thơ những lúc buồn. Cuốn tự sự sẽ có tên, như ngày xưa có Đời cô Lựu, thì ngày nay sẽ có Đời chị Hằng… và tôi tin, đó sẽ là cuốn tự sự lấy đi nước mắt của rất nhiều người…

