Một câu chuyện nhỏ về tình yêu thương

Thứ Năm, 20/10/2011, 06:45
Khi Thu Hiền quyết định đứng ra bảo trợ cho một cậu thủ khoa nghèo xứ Huế trong suốt những năm đại học, để cậu bé ấy có thể yên tâm lo chuyện đèn sách, nhiều người đã gọi điện hỏi chị, rằng chị có phải là một “đại gia” giàu có hay không? Sự thực thì chị chỉ là một người phụ nữ trẻ hết sức bình thường.

Chị vẫn phải ở nhà thuê, vẫn còn những nỗi lo mưu sinh như rất nhiều người bình thường khác. Nhưng chị đã trải qua một tuổi thơ khó khăn và đầy vất vả để có được ngày hôm nay. Chị hiểu nỗi nhọc nhằn của những người học trò nghèo trên con đường học vấn. Sự đồng cảm và mong ước về việc cậu thủ khoa nghèo ấy sẽ không vì hoàn cảnh mà lỡ dở chuyện học hành chính là lý do cho sự giúp đỡ của chị.

Nguyễn Đắc Hiếu là một cậu học trò nghèo xứ Huế. Mẹ Hiếu mất từ năm 2005. Bố Hiếu – ông Nguyễn Đắc Đề một mình sống cảnh “gà trống nuôi con” từ đó đến giờ. Thương hai đứa con trai chăm chỉ học hành, ngày ngày ông Đề vẫn đi bán từng que kem khắp các hang cùng ngõ hẻm của thành phố Huế, để kiếm tiền nuôi con ăn học.

Hiếu cũng phải phụ giúp cha để lo chuyện cơm áo cho cả gia đình. Nhưng Hiếu vẫn luôn là cậu học trò ngoan, học giỏi ở Trường PTTH Hai Bà Trưng (TP Huế). Khi Hiếu cùng lúc thi đỗ Trường Đại học Y Dược Huế (25,5 điểm) và là Thủ khoa trường Đại học Sư phạm Huế (26,5 điểm), bố Hiếu là người tự hào hơn cả về con trai mình. Nhưng trong niềm tự hào đó có cả những nỗi lo nặng trĩu: lo vì không biết kiếm đâu đủ tiền lo cho con nhập học; lo vì không biết làm thế nào để nuôi con trong suốt những năm đại học tốn kém.

Trần Thị Thu Hiền đã tình cờ đọc được câu chuyện về hoàn cảnh khó khăn của cậu Thủ khoa xứ Huế Nguyễn Đắc Hiếu. Chị tìm thấy trong đó sự đồng cảm lạ lùng và chị quyết định trở thành người bảo trợ cho Hiếu, để Hiếu có thể gạt bỏ nỗi lo cơm áo, toàn tâm toàn ý lo chuyện đèn sách.

Thu Hiền sinh năm 1978. Chị là con gái trong một gia đình công nhân nghèo ở thành phố Vinh (Nghệ An). Khi Thu Hiền 8 tuổi, mẹ chị bị đổ cả nồi nước đang sôi sùng sục trên bếp vào người, dẫn đến bỏng toàn thân. Bà đã phải nằm ở Bệnh viện Nghệ An suốt một năm trời. Bao nhiêu tài sản trong gia đình, bố chị đều phải lần lượt bán đi để có tiền chữa bệnh cho mẹ chị.

Ngày mẹ chị bình phục và trở về nhà, cũng là ngày gia đình chị hoàn toàn suy kiệt. Khi đó chị mới 9 tuổi. Chị vẫn nhớ có một hôm đã quá trưa mà mẹ không nấu cơm, chỉ ngồi len lén lau nước mắt. Chị vào bếp và phát hiện ra nguyên nhân khiến mẹ rơi nước mắt: bà không thể nấu bữa cơm trưa nay, vì trong nhà không còn một hạt gạo nào.

Chị không nói gì với mẹ, chỉ lẳng lặng đi lang thang khắp các bờ rào quanh làng, hái một thúng lớn rau tập tàng mang ra chợ bán. Số tiền ít ỏi có được từ thúng rau tập tàng đó, chị đến quầy bán gạo mua được một nhúm gạo, bọc vào lá chuối rồi mừng rỡ mang về cho mẹ. Lúc đưa gạo cho mẹ, chị cười hồn nhiên: “Mẹ đừng khóc nữa, con có gạo đây rồi”. Nhưng mẹ chị chẳng thể không khóc. Bà nghẹn ngào ôm lấy cô con gái nhỏ 9 tuổi đã lần đầu tiên phải mưu sinh và gánh thay cha mẹ nỗi lo cơm áo.

Kể từ sau ngày hôm đó, chị như trở thành một con người khác. Chị đã đứng ra thay mẹ gánh vác chuyện gia đình. Ngày ngày, ngoài giờ học, chị đi trồng rau rồi mang ra chợ bán. Hết chỗ rau, chị lại cầm ấm nước chè và một cái bát nhỏ đi lang thang khắp chợ bán cho những người đi chợ khát nước, hi vọng kiếm thêm chút tiền. Mới hơn 10 tuổi, chị đã thành thục chuyện chợ búa. Chị đi mua chanh, mua ớt, mua tỏi khô, hành khô rồi ngồi bán ở chợ. Hình ảnh chị - 1 cô bé hơn 10 tuổi đầu – ngồi lọt thỏm giữa những người phụ nữ đã 40 – 50 tuổi dạn dày kinh nghiệm chợ búa, đã trở thành một hình ảnh quen thuộc ở chợ Bến Thủy.

Chị không có tuổi thơ, không được sống những ngày thơ ấu hồn nhiên như những đứa trẻ khác cùng trang lứa. Nhưng chị không bao giờ cho phép mình từ bỏ con đường học hành. Ngày chị thi đỗ vào Học viện Tài chính (hệ Cao đẳng), nhiều người rất ngỡ ngàng: “Ô hay, con bé đó bỏ học từ lâu rồi, có còn học hành gì nữa đâu mà thi đỗ đại học”. Họ không hề biết rằng chị đã tranh thủ từng kẽ hở thời gian trong suốt những ngày thơ ấu của mình, để vừa học hành, vừa kiếm tiền nuôi sống gia đình.

Chị vẫn nhớ lần đầu tiên từ Vinh ra Hà Nội ôn thi rồi trọ học, vì nhà nghèo, nên cha mẹ chị đành để chị đi một mình với một cái rương to đựng toàn sách vở. Lần đầu tiên xa nhà, đặt chân đến Thủ đô sầm uất, cô gái trẻ 18 tuổi vừa đội cái rương trên đầu, vừa đi bộ vừa tìm đường về Học viện Tài chính. 6h ra tới Hà Nội, 17h chiều chị mới tìm được đến trường.

Ngày chị đi nhập học, mẹ chị chỉ lo được cho chị số tiền ít ỏi đủ để chị chi tiêu tằn tiện trong 3 tuần đầu. Đó cũng là số tiền duy nhất mẹ chị đã đưa được cho chị trong suốt những năm chị là sinh viên. Để làm mẹ khỏi lo lắng, khi cầm số tiền đó lên đường ra Hà Nội, chị đã nhoẻn miệng cười trấn an mẹ: “Mẹ yên tâm. Mẹ biết con rồi đấy, dù thế nào con cũng sẽ sống được”.

Những ngày đầu trở thành sinh viên, chị đi rửa bát thuê ở quán ngày 2 bữa, để đổi lấy 2 bữa ăn trưa và tối. Để có tiền đóng học, mua sách vở, chị đi tìm việc khắp nơi. Chị đã trải qua đủ thứ nghề: từ tiếp thị, đến gia sư, rồi phục vụ quán ăn. Có cảm giác không một công việc nào mà một sinh viên cho thể làm thêm là chị chưa từng làm. Tất cả những công việc đó đã giúp chị đi qua quãng đời sinh viên nhọc nhằn.

Ra trường, cầm hồ sơ đi xin việc hết công ty này đến công ty khác, đến đâu chị cũng nhận được cái lắc đầu từ chối. Tất cả những nơi đó đều đòi hỏi phải có kinh nghiệm hoặc chí ít cũng phải có xe máy: cả hai cái đó chị đều không thể đáp ứng được. Cả đời chị, chị chưa bao giờ có khái niệm từ bỏ. Chị càng không chấp nhận thất bại, sau khi đã vượt qua ngần ấy những khó khăn, thử thách.

Buổi tối, chị xin vào làm phục vụ trong các quán ăn. Ban ngày chị xin vào làm việc trong một công ty chuyên kinh doanh các thiết bị camera, điện tử. Chị vào đó làm việc không lương, chấp nhận làm đủ mọi việc mà người ta sai bảo, từ quét dọn, lau chùi, pha nước, chỉ để xin được học nghề từ chị kế toán trưởng của công ty đó.

6 tháng đầu, chị không hề được “mon men” lại gần những sổ sách, chứng từ kế toán. Nhưng dần dần, sự chăm chỉ, cần mẫn và quyết tâm của chị đã được đền đáp xứng đáng. Chị bắt đầu được học từ những điều sơ đẳng cho đến phức tạp nhất của nghề kế toán, để rồi sau đó, khi người kế toán trưởng của công ty ấy chuyển công tác, chị đã được trao cơ hội đầu tiên của đời mình: trở thành kế toán trưởng cho chính công ty đó.

Chị đã từng trải qua vị trí kế toán trưởng từ các DN tư nhân có tên tuổi, các tổ chức phi chính phủ, các tập đoàn nước ngoài và hiện nay là một Công ty cổ phần Đầu tư Reenco Sông Hồng (thuộc Tổng Công ty cổ phần Sông Hồng). Chị đã gánh vác thay cha mẹ, lo cho 2 em gái ăn học. Lo cho các em ăn học xong xuôi, chị mới nghĩ đến hạnh phúc của mình. Phần thưởng xứng đáng nhất đối với chị là sự trưởng thành của hai người em gái, và một cuộc sống hạnh phúc mà chị đang có bên chồng và hai đứa con nhỏ xinh xắn.

Tuy rằng khởi đầu của chị là học hệ cao đẳng chính quy (do thi đại học thiếu 0.5điểm), nhưng giờ đây chị đã học liên thông lên đại học, đã có văn bằng 2 khoa Tiếng Anh thương mại của Trường Đại học Ngoại thương và hiện tại chi đang sắp sửa hoàn thành chương trình Thạc sỹ tại Học viện Tài chính. Chị chưa bao giờ mất tự tin vào bản thân mình, minh chứng vì khi thi tuyển vào các tập đoàn nước ngoài có rất nhiều đối thủ cả những đối thủ có bằng Thạc sỹ tại nước ngoài nhưng rồi chị đã chiến thắng.

Chị tâm sự: “Trước khi quyết định giúp đỡ Hiếu, tôi đã từng giúp đỡ một sinh viên trường Y cũng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tôi coi cô bé đó như em gái mình và hạnh phúc vì giờ cô ấy đã có một công việc tốt, tại một bệnh viện lớn, đã có chồng con và sống rất hạnh phúc. Tôi rất phục những người thông minh, có chí học hành. Tôi không đành lòng để một người như Hiếu có thể lỡ dở tương lai chỉ vì những khó khăn vật chất. Hiếu có hỏi tôi là điều kiện để tôi giúp em là gì. Tôi chẳng có bất cứ điều kiện gì, chẳng có bất cứ yêu cầu gì từ em, cũng không mong em phải trả ơn tôi sau này. Tôi chỉ mong em sẽ luôn là em như bây giờ, luôn nỗ lực phấn đấu, luôn vươn lên trong cuộc sống. Tôi mong sau này khi em đã trưởng thành, đã cứng cỏi, em hãy giúp đỡ những người khác có hoàn cảnh giống mình”.

Tôi đã từng được nghe một câu chuyện cảm động về cậu bé Trevor Mc Kinney 12 tuổi, sống ở bang California. Thầy giáo của cậu bé đó đã ra một bài tập với nội dung: “Hãy nghĩ ra một ý tưởng để thay đổi thế giới và biến nó thành hành động”.

Cậu bé có trái tim nhân ái Trevor đã nghĩ ra một ý tưởng thay đổi thế giới đầy lòng nhân ái: Cậu sẽ giúp đỡ 3 người và mong muốn mỗi người trong ba người đó sẽ tiếp tục giúp đỡ ba người khác và lại mong muốn những điều tương tự từ những người được giúp đỡ ấy. Cậu gọi đó là “đáp đền tiếp nối” và mong muốn sự “đáp đền tiếp nối” đó sẽ được kéo dài, được nhân rộng, để cả nhân loại đều được nhận sự giúp đỡ.

Và Trevor đã làm gì? Cậu cho một cậu bé lang thang 35 đô la số tiền tiết kiệm của cậu nhờ những ngày đi phát báo. Cậu giúp một bà lão cô đơn sống một mình bằng cách dọn dẹp, sơn phết cho khu vườn mà bà rất yêu quý nhưng kiên quyết không nhận tiền công do bà trả. Cậu đã khiến bà lão cảm động và âm thầm thực hiện ý tưởng đẹp đẽ của cậu mà bà đã khám phá được. Khi từ giã cõi đời, bà đã để lại di chúc chia đều số tiền bà đã tích cóp được cho 3 người quen mà bà nghĩ rằng họ cần giúp đỡ. Trevor không hề biết rằng, ý tưởng và hành động của mình về câu chuyện “đáp đền tiếp nối” đã tạo thành một phong trào “đáp đền tiếp nối rộng lớn”.

Câu chuyện về Trevor có một kết thúc buồn. Vì muốn giúp đỡ một người bị 1 băng đảng côn đồ hành hung, Trevor đã không ngại ngần lao vào cứu người ấy và bị những kẻ trong băng đảng đó đâm chết. Cậu bé Trevor ra đi mãi mãi ở tuổi 12. Nhưng câu chuyện “đáp đền tiếp nối” của Trevor đã thực sự tạo ra những điều kỳ diệu. Trevor đã làm thay đổi trái tim nhiều người, giúp họ nhận ra rằng họ phải sống tốt hơn nữa, phải biết giúp đỡ những người xung quanh nhiều hơn nữa, phải biết yêu thương nhiều hơn nữa; và biết cho nhiều hơn biết nhận.

Ngày cậu bé Trevor mất, đã có hàng nghìn, hàng nghìn đến từ khắp nơi đứng quanh ngôi nhà Trevor ở. Họ thắp hàng nghìn, hàng nghìn ngọn nến để tạm biệt Trevor, cầu cho Trevor sẽ được Chúa mãi mãi che chở khi lên Thiên đàng. Trevor không còn, nhưng những việc Trevor đã làm thì sống mãi trong trái tim những người ở lại.

Đôi khi bạn cho ai đó tình yêu thương, không phải để người đó sẽ trả lại bạn tình yêu đó, mà để người đó truyền yêu thương đó đi cho những người khác, để tình yêu thương, lòng nhân ái sẽ luôn còn mãi, luôn là lẽ sống của tất cả nhân loại

Lục Lạc - số 54
.
.
.