Lão mù hơn 60 năm "cạy cửa" người dưng
Phận đời
Ông Dương sinh năm 1938, là con cả của gia đình 3 anh chị em, thế nhưng nỗi bất hạnh đã đến với cả gia đình khi ông mới lọt lòng. Ông kể: "Ngày sinh ra, tui đã bị mù cả hai mắt có nhìn thấy gì đâu. Cha mẹ mất sớm, cả mặt cha mẹ mình cũng không biết, nhà có 3 anh chị em chỉ biết nương tựa vào nhau mà sống, hằng ngày mấy anh em ra đồng mò cua, bắt ốc để kiếm tiền sống qua ngày đoạn tháng".
Dương là con cả trong nhà, ngay từ thuở ấu thơ đã phải cơ cực trăm bề gánh vác việc gia đình, nuôi hai em. Ba anh em lớn lên trong tình yêu thương đùm bọc của bà con, làng xóm. Người ta thường nói giàu hai con mắt khó đôi bàn tay. Đằng này Dương bị mù hai mắt, nói đến chuyện mưu sinh đã khó huống gì đến chuyện làm giàu. Vì không muốn mình là người thừa, người ăn bám, kẻ vô dụng… thêm nữa, không muốn nhờ vả bất cứ ai mãi như thế này nên Dương quyết định đi xa làm thuê kiếm tiền nuôi các em ăn học.
Ông còn nhớ như in ngày đó, dù chưa đến tuổi làm chứng minh nhân dân nên ông đã "khai khống" thêm 3 tuổi (đủ 18 tuổi) để được làm chứng minh nhân dân. Vì nó coi như là cái giấy thông hành mỗi khi đi xa. Có được giấy chứng minh, Dương quyết định rời xa quê hương để mưu sinh. Nơi đầu tiên mà ông đặt chân đến là Nghệ An, rồi Quảng Bình, Huế…, vì ngày ấy chưa có tiền đi tàu xe mà chủ yếu là đi bộ hàng chục cây số.
Nghe ai bảo ở đâu có việc làm là ông lại đến, ai thuê gì thì ông làm nấy miễn là có tiền. Được một thời gian, ông Dương tích cóp được một số tiền kha khá. Với mong muốn sẽ học được một cái nghề để tự nuôi sống bản thân, thế là hành trình lăn lộn mưu sinh và tìm nghề của ông lại bắt đầu một chặng đường mới đầy gian truân khổ ải.
Nơi đến xa nhất và đầu tiên là Sài Gòn, nghe ở đâu có nghề hay là ông đến xin làm thuê một thời gian rồi ngỏ ý xin được học hỏi nghề nhưng tất cả đều từ chối. Khoảng thời gian 2 năm phiêu bạt ở vùng đất miền
![]() |
| Ông Dương và bà Thúy hạnh phúc bên nhau. |
Con ngựa kham chạy mãi cũng chồn chân, con chim bay mãi cũng mỏi cánh. Chính vì thế mà đất cảng Hải Phòng có lẽ là nơi dừng chân cuối cùng và lâu năm nhất. Ông Dương bảo: Ngày ấy tôi nhận ra nơi đây có cái nghề sửa khóa đang "hái" ra tiền. Vốn bỏ ít mà không bươn chải ngược xuôi, lại rất phù hợp với hoàn cảnh của mình. Mắt mù học nghề rất khó khăn, hỏi người ta cũng không ai chỉ bảo, dù không được truyền nghề nhưng bằng trí thông minh của mình ông đã học được cái nghề sửa khóa, nghề theo suốt và nuôi sống cả gia đình mấy mươi năm qua.
Ông Dương kể: "Để học được nghề sửa khóa, tui đã phải mang khóa của mình ra nhờ người ta sửa hộ rồi lọ mọ, mày mò "học mót" chứ người ta có chỉ bảo mình đâu. Cứ thế sờ sờ, mó mó, đoán hàn đoán nhiệt lâu dần thành quen và có kinh nghiệm riêng cho bản thân".
"Khắc tinh" của khóa
Hỏi về ông Dương, dân làng nơi đây tranh nhau kể: "Ông ấy tốt tính và có trí nhớ tốt lắm. Kể từ khi học lỏm được nghề sửa khóa, ông Dương về quê để mưu sinh, cũng từ đây ông sống nhờ vào việc sửa khóa. Hằng ngày, bất kể nắng hay mưa gió, hễ có ai mang khóa đến nhà mình hoặc gọi thì ông lại tay xách nách mang đồ nghề rồi lọ mọ đi bộ để sửa cho người ta. Tiền công mỗi lần sửa chỉ dăm ba nghìn, nhà nào nghèo thì ông không lấy tiền. Ông bảo tôi yếu sức, lại không nhìn thấy đường nên không làm được việc nặng, kiếm được vài nghìn đong bát gạo đủ ăn cả ngày là quý lắm rồi.
Bà Nguyễn Thị Lành một người hàng xóm nói cho chúng tôi nghe từ khi "gắn" mình với những chiếc khóa, ông Dương chưa bao giờ đầu hàng với một loại khóa nào, khóa nào ông cũng sửa được, mở được. Có nhiều hôm cả ngày tôi thấy ông "đánh vật" với mấy cái ổ khóa quên cả bữa cơm.
Dù nghèo đói nhưng bản tính thật thà, không tham của cải. Chính vì thế đã có lần tay đại gia làm nghề buôn gỗ giàu thuộc hạng nhất nhì Đức Thọ không may bị mất chìa khóa két sắt đã đến nhờ ông Dương mở giúp. Khi xong việc, người đàn ông đó đưa cho ông Dương 1 triệu đồng nói là tiền công nhưng ông nhất quyết từ chối.
Hỏi về những ngày tháng rong ruổi, lang thang mưu sinh kiếm sống có ai đưa đi, lúc tàu xe, địa chỉ đến, nơi ăn chốn ở? Ông Dương phì cười: “Làm chi có ai đi với thân già này, đường sá tui thuộc như trong lòng bàn tay”.
Dựng mối lương duyên qua tiếng đàn bầu
Không chỉ là "khắc tinh" của khóa, ông Dương còn người hát hay và đàn giỏi, có tài đan lát và tự mình có thể luồn chỉ qua kim rồi tự khâu vá như một tay máy may chuyên nghiệp. Bà Thúy cầm mấy chiếc rổ và sàng do chính tay ông Dương tự chẻ tre và đan lên khoe với chúng tôi: "Mấy cái này đem bán, đổi lấy thức ăn hằng ngày đấy chú ạ. Ông nhà tôi khéo tay, hay làm lắm đó!". Hỏi về mối tình với người thiếu nữ Tạ Thị Thúy ngày nào, nay là người bạn đời, ông Dương với tay cầm lấy chiếc đàn bầu tự mình làm treo ở vách tường rồi cao giọng ngân lên và độc tấu một bản nhạc cùng lời bài hát "Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh".
Ông bảo nhờ cây đàn và mấy bài hát mà tui "cưa" đổ bà nó. Kể đến đây ông bỗng trầm tư, hai dòng nước mắt trắng đục trào ra từ đôi mắt sâu hoắm và làn da nhăn nheo như ruộng tháng sáu. Giọng ông Dương như có vật gì chen ngang: Trong một lần tình cờ đi ngang qua làng bên cạnh. Trên vai đang vác cái đàn bầu cặm cụi, dúi dụi cái đầu để nhanh chân về nhà thì bỗng nhiên có một bà (chính là mẹ Thúy bây giờ) gọi lại thất thanh: "Này anh kia đi đâu mà vội thế, vào đây tôi nhờ chút việc". Chàng trai trẻ đỏ mặt bởi mặc cảm về thân phận nhưng đành phải ngậm bồ hòn. Vào đến nhà, theo yêu cầu của gia chủ, ông Dương phải đánh đàn và hát một bài hát.
Khúc nhạc du dương, những âm thanh trầm bổng trong trẻo từ cây đàn bầu tự tạo và giọng hát ấm áp nghe đến mê lòng như chạm sâu vào trái tim chưa một lần biết yêu của Thúy. Thúy nấp đằng sau cánh cửa nhìn trộm, rồi khi nghe xong rơm rớm nước mắt trốn mẹ ra sau vườn để trải lòng. Không ngờ sau lần gặp gỡ ấy, Thúy và Dương nên vợ nên chồng. Năm ấy cô thôn nữ mới ở tuổi 17 chưa đủ tuổi kết hôn, lại có phần sợ làng xóm đồn ra đồn vào nên ông Dương không dẫn về nhà. Nhưng thật bất ngờ 20 ngày sau thì đám cưới diễn ra vì ông Dương lên xã "thêm" cho bà Thúy 1 tuổi. Từ khi có bà Thúy, những việc vặt vãnh nhà cửa đỡ bộn bề lo toan.
Hạnh phúc mỉm cười với đôi vợ chồng khi bà Thúy sinh cho ông Dương đứa con trai đầu lòng khá kháu khỉnh. Dù đói nghèo nhưng căn nhà nhỏ đầy ắp tiếng cười con trẻ. Ngày ngày ông Dương ở nhà chăm con thay vợ, người vợ đảm đang hết việc đồng áng. Từ ngày có con, ông Dương vui hơn và đi xa sửa khóa nhiều hơn. Lần lượt 5 đứa con có nếp có tẻ chào đời, người cha mù sống trong niềm hạnh phúc.
Đi bộ mãi chân mỏi vì sức người có hạn, thế rồi ý nghĩ điên rồ lóe lên trong đầu lão mù là quyết định tập xe đạp để đỡ phần vất vả. Không ai tin được một người bị mù cả hai mắt mà dám tập xe đạp. Chuyện đến tai những người trong xã và các vùng lân cận khiến họ không tin nhưng đó là sự thật.
Bà Thúy kể: "Tui giật mình khi nghe ông nhà bảo mai mượn cái xe đạp của nhà hàng xóm để tập chứ đi bộ mãi mệt lắm, bắt xe thì tốn tiền. Tính ông đã bảo là làm nên tui cũng không thể cản nổi, nói rồi phân tích chỉ như nước đổ lá khoai, đành chịu vậy". Sáng hôm đó Dương lên nhà con ông bác, khó khăn lắm mới năn nỉ mượn được chiếc xe đạp Phượng Hoàng mới cứng rồi nhờ mấy đứa trẻ con mang ra tít tận sân bóng đá của xóm. Lấy sân làm đường đi, đám trẻ con theo sau nheo nhéo hò hét ing ỏi làm "còi", làm mốc ranh giới, làm người dẫn đường cho "lão hâm" thỏa lòng mong muốn.
Thông tin ông Dương mù tập đi xe đạp lan nhanh khắp nơi như một chuyện động trời. Buổi tập đầu tiên ấy, những vết thương bầm tím trên trán, chân và tay vì những lần đo đất, chiếc xe mới cứng đi mượn biến dạng trở nên ọp ẹp. Kết quả sau lần đó bà Thúy phải bán 2 tạ lúa non để có tiền sửa lại chiếc xe nguyên vẹn. Không từ bỏ ý định, trong làng hễ ai có xe đạp, ông đều đến lân la rồi ngỏ ý muốn mượn. Thấy ông có ý chí nên nhiều người cũng động lòng.
Một tuần rồi hai tuần, những vết thương cũ chưa liền da thì vết thương mới lại tranh nhau kế cận vì nhiều lần ngã dúi dụi. Nghị lực đã giúp ông Dương đứng vững và đi được trên chiếc xe đạp như một người lành lặn. Chìa phần cùi tay và chân đầy những chiếc sẹo lồi lõm ra, ông Dương nói như minh chứng về sự khổ luyện: "Chú coi đó, không kiên trì còn lâu mới làm được". Từ khi biết đi xe, dù hoàn cảnh khó khăn nhưng chắt chiu tằn tiện mãi cũng sắm cho mình được chiếc xe đạp cà tàng để tiện việc sửa khóa.
Ngoài những khi thay vì ngồi ở nhà sửa khóa, ông Dương lại dắt bộ đồ nghề lên xe rồi vào TP Hà Tĩnh, có nhiều lúc ra TP Vinh sửa chữa khóa lưu động. Những nơi mà ông Dương dừng chân là các cổng trường đại học, các khu chợ, cổng các bến xe. Đôi tay run run đan từng chiếc nan tre, ông bảo: "Già rồi, giờ có ai bảo đi xe đạp rồi cho tiền cũng đành chịu bởi thời trẻ đi nhiều kiệt sức rồi. Chỉ đi bộ thôi chứ ngồi lâu ở nhà thấy "ngứa tay" khó chịu lắm". Thường thì ông đi 2 - 3 ngày mới về nhà một lần.
Soi đường đi cho những người mắt sáng
Từ những năm 90 thế kỷ trước, huyện Đức Thọ thành lập Hội Người mù, ông Dương được bầu vào Ban chấp hành Hội Người mù của huyện. Cũng chính thời gian hoạt động tại đây, ông đã có nhiều đóng góp trong việc thành lập Hội Người mù huyện Đức Thọ, có nhiều sáng kiến trong việc thúc đẩy sự phát triển nghề trong Hội Người mù như đan lát, làm tăm tre, đồ mỹ nghệ… Ông Dương vinh dự được UBND tỉnh Hà Tĩnh tặng bằng khen là thành viên Hội Người mù huyện Đức Thọ đã có thành tích xuất sắc trong việc quản lí vốn quốc gia.
Năm 1994, ông Đinh Thuyên, Chủ tịch Trung ương Hội Người mù tặng bằng khen vì đã có nhiều cống hiến cho nghề đan lát, làm chiếu, làm tăm… Năm 1997, ông Đinh Văn Thủy, Chủ tịch Hội Người mù huyện trao tặng bằng khen cho riêng cá nhân ông Phan Văn Dương. Năm 1998, đồng chí Đào Soát - Chủ tịch Trung ương Hội Người mù tặng bằng khen

