Indrapura – kinh đô cổ bị lãng quên
Toàn bộ di tích này được phân bố trên một địa bàn khá rộng với trung tâm là khu tôn giáo mà thường gọi là Phật viện Đồng Dương nằm tại làng Đồng Dương (xã Bình Định Bắc). Phật viện này được hai nhà khoa học thuộc viện Viễn Đông Bác Cổ chuyên nghiên cứu văn hóa cổ Đông Dương thời thuộc địa là L.Finot phát hiện 1901 và H.Parmentier khai quật năm 1902.
Indrapura là một kinh đô hoàn chỉnh. Khu Phật viện Đồng Dương là một phần nhỏ nằm trong một hệ thống kinh đô trải rộng khắp xã Bình Định Bắc và một phần của xã Bình Trị ngày nay. Indrapura có cả khu vực hoàng cung, thành quân sự, hệ thống các tháp canh, các di tích tôn giáo, một khu chế tác đá cổ để xây dựng đền đài và những tấm bia đá có khắc Phạn ngữ nằm trong khuôn viên Phật viện… Chính những yếu tố này làm cho Indrapura trở thành một kiểu kinh thành truyền thống giống như kinh đô Sinhapura (Trà Kiệu - Quảng
Ngày nay, khi hầu hết các di tích Chămpa trong lịch sử đều đã được phát lộ, nhưng Indrapura vẫn còn là một hoài niệm và trong tài liệu.
Do không nhận thức được sự tồn tại cũng như giá trị của hệ thống di tích trên nên hiện nay nó đã và đang bị xâm phạm nghiêm trọng. Đến cả Phật viện Đồng Dương một di tích cấp quốc gia cũng bị tàn phá nặng nề và có nguy cơ bị xóa sổ.
![]() |
|
Rừng tràm đang bao phủ Phật viện. |
Theo đánh giá của giới khảo cổ học, đây là khu kinh đô còn đầy đủ các di tích kiến trúc chức năng nhất trong số các dấu tích kinh đô của Vương quốc cổ Chămpa. Phần bí mật còn lại của vương quốc hơn 1.000 năm tuổi vẫn còn nằm đâu đó trong những vùng đồi trung du dọc theo sông Li Li ra cửa Đại - Hội An và dọc theo suối Ngọc Khô ra tận bãi Bàn Than - Núi Thành đang còn chờ được khám phá, gìn giữ.
Đi tìm dấu tích của kinh thành cổ
Theo cố GS.Trần Quốc Vượng, mô hình một tiểu quốc Champa dựa trên trục quy chiếu là dòng sông phải có ba thiết chế - ba trung tâm (tính theo dòng chảy của sông, từ núi ra biển) gồm: trung tâm tôn giáo, tạm gọi là Thánh địa (thường về phía Tây, đầu nguồn sông); trung tâm chính trị (thường nằm ở bờ
Vương triều và kinh đô Indrapura lấy dòng sông Li Li làm hệ quy chiếu chung. Đó là con sông nhỏ bắt nguồn từ vùng đèo huyện Quế Sơn và Tiên Phước chảy theo hướng Tây - Đông. Con sông làm ranh giới tự nhiên giữa huyện Quế Sơn và Thăng Bình trước khi vòng theo hướng Đông Bắc rồi đổ ra biển cửa Đại (Hội An). Vùng Hội An trước đây là một thương cảng cổ và trung tâm kinh tế chính trị quan trọng của Vương quốc Chămpa. Hệ thống các giếng cổ quanh khu vực, di tích trên đảo Cù Lao Chàm, vị trí các tàu đắm trên khu vực chứng tỏ điều đó.
Indrapura cũng giống như kinh đô Sinhapura - Trà Kiệu đều lấy Cù Lao Chàm làm bức bình phong và cửa ngõ giao thương với thế giới bên ngoài. Mặt khác ngay chính thôn Đồng Dương - vị trí kinh thành sông Li Li tách một nhánh nhỏ gọi là suối Ngọc Khô chảy theo hướng Đông Nam đổ ra khu vực biển Tam Hải huyện Núi Thành, đây là khu vực có nhiều di tích Chăm. Khu vực cảng Kỳ Hà (Tam Kỳ) ngày nay cũng có nhiều dấu hiệu chứng tỏ là một thương cảng cổ trong khu vực sau Hội An. Hệ thống tháp Chiên Đàng, Khương Mỹ và các tháp phát hiện mới sau này cũng liên quan đến hệ quy chiếu của dòng sông này.
![]() |
| Bia đá bị vỡ nát. |
Về mặt thông thương từ Đồng Dương có thể giao thông thuận lợi theo đường thủy đi ra biển và tỏa ra các hướng
Vị trí kinh đô nằm phía
Kinh đô Indrapura nằm gọn trong cánh đồng Dương rộng khoảng 2km2 (Theo kiến giải của những nhà nghiên cứu Pháp thì Đồng Dương có nghĩa là cánh đồng thiêng. Tiếng "Dương" là biến âm của tiếng "Yan"- trời, linh thiêng trong ngôn ngữ Chăm). Đó là một thung lũng hình chữ nhật ba mặt Đông,
Đứng trên đỉnh Trà Cai - ngọn núi cao nhất bao bọc kinh thành ở phía Tây
Từ Phật viện có một con đường cổ dạng bờ lũy chạy về hướng Đông khoảng 750m, băng qua một cánh đồng và mép của một quả đồi nhỏ thì đến cửa phía Tây của khu hoàng cung-trung tâm chính trị của Indrapura. Khu vực hoàng cung kinh đô Indrapura chính là khu vực Ao Vuông.
Nguyên thủy đó là một quả đồi thấp sát đồng bị tách ra với phần còn lại ở hướng Đông bằng một đường thủy hào để tồn tại độc lập. Trên đồi đó người ta lại đào tiếp một cái ao hình chữ nhật kích thước khoảng 100x180m. Toàn bộ số đất đào này được đắp thành dạng lũy vuông vức và bằng phẳng chạy vòng theo Ao Vuông.
Quả đồi nhân tạo này được tạo dáng khá cẩn thận, mặt bằng tổng thể của nó hình chữ nhật lồi, hướng hơi lệch Tây Bắc. Bao quanh khu hoàng cung là đường thủy hào nhân tạo để phòng thủ.
Từ cầu Ông Triệu rẽ lên rừng Thành nằm mạn
![]() |
|
Một phế tích vẫn còn lưu những đường nét hoa văn, Đá trong Phật viện bị đem ra làm cầu. |
Thành ngoại chỉ còn dấu tích nền móng bằng gạch bị đứt quãng có chỗ chạy song song với các cạnh của thành nội, quy mô rộng hơn khá nhiều. Khoảng không gian giữa thành nội và thành ngoại khá bằng phẳng. Có thể đây là khu vực doanh trại cho những binh đoàn bảo vệ kinh đô.
Dọc theo con suối Ngọc Khô án ngữ phía Bắc kinh thành cổ được bố trí các tháp canh. Hiện tại chỉ còn 5 cái, bốn cái được phân bố mặt
Ông Trà Díu (80 tuổi, người thôn Đồng Dương) cho biết, trước những năm 1970, các tháp này vẫn chưa sụp đổ. Chúng có bình đồ hình vuông, phần thân là một khối gạch xây hình tứ giác cụt. Trong lòng là hệ thống bậc thang xây gạch chạy vòng theo chân tường lên tới đỉnh. Độ cao cho mỗi tháp canh khoảng 10m.
Khu chế tác đá cổ của người Chăm xưa nằm trên đỉnh núi Trà Cai thuộc xã Bình Trị. Đỉnh núi có hình thù kỳ lạ nằm sát quốc lộ 14E. Đó là ngọn núi cao nhất nằm trong hệ thống núi bao bọc quanh kinh đô Indrapura nằm về phía Tây
Tại đây xuất hiện nhiều phôi đá dạng sơ chế được bóc tách ra từ những tảng đá lớn. Về chất liệu đá theo quan sát khá giống với đá tại di tích Đồng Dương đó cùng là loại sa thạch không mịn lắm, thịt màu xám trắng. Nếu mở rộng quan sát sang các vùng lân cận sẽ thấy người Chăm xưa có một quá trình chọn lọc đá rất kỹ lưỡng. Dấu tích còn lại rõ ràng nhất là một tảng đá cỡ trung bình còn nhiều vết cưa dang dở. Đó cũng là kỹ thuật tách đá đặc biệt dễ đem lại hình khối chính xác nhất mà không bị bể vụn hoặc hao hụt đá. Trên những tảng đá lớn còn xuất hiện những đường đục khoét cổ khác thường. Nhiều người cho rằng đó là một văn tự cổ, hay một sơ đồ kho báu bị lu mờ.
Di tích quốc gia cũng bị tàn phế
Phật viện Đồng Dương là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng không chỉ của Vương quốc Chămpa cổ mà của cả khu vực Đông Nam Á thời trung đại. Đây được xem là một thánh địa Phật giáo bởi quy mô đồ sộ của dấu tích kiến trúc còn lại và sự lan tỏa, ảnh hưởng về mặt văn hóa của nó với những khu vực xung quanh.
Phật viện là một quần thể kiến trúc lớn nằm gọn trong một bức tường thành hình chữ nhật, cạnh dài chạy theo hướng chính Đông - Tây kích thước khoảng155mx326m gọi là thành ngoại. Vết tích nền móng còn lại cho thấy đây là một bức tường thành khá lớn và cao. Thành ngoại chứa 3 cụm kiến trúc đồng trục Đông - Tây và 3 hồ nhân tạo lớn. Có 2 hồ ở góc Đông Bắc và một ở góc Đông
Thành ngoại có hai cửa Đông và Tây. Hiện tại vết tích cổng rất mờ nhạt nhưng theo lời các cụ già, cửa Đông là một kiểu kiến trúc rất đồ sộ, có dạng tháp. Hai bên cửa ra vào có tượng thần gác cổng, còn cửa phía Tây thuộc về phía sau của Phật viện.
Bên trong thành ngoại lại có thành nội. Thành nội bao lấy đền thờ trung tâm trong đó có tháp chính mà một phần còn lại ngày nay được chống đỡ. Thành nội còn có một tháp đặc biệt còn gọi là Tháp Giếng. Tháp nằm phía góc Tây
Có thể người Chăm xưa đã biết áp dụng "nguyên lí hai bình thông nhau". Với kĩ thuật gốm phát triển, họ đã đúc những ống gốm dẫn nước đặt ngầm trong lòng đất. Những ống này sẽ lấy nước từ khu vực nước có chất lượng cao và có cao trình bằng với cao trình nước mà họ muốn khống chế. Điều này giải thích tại sao nước trong giếng Chăm cổ rất trong sạch trong khi nước giếng đào trong khu vực bị nhiễm phèn nặng, hoặc mực nước của họ nằm trên lưng chừng đỉnh đồi mà không vơi không đầy giống như có ma lực.
Di tích bị "bức tử"
Bên con đường 14E tại vị trí vào khu di tích, ngành văn hóa đã cho xây dựng một bia chỉ dẫn ghi rõ "Phật viện Đồng Dương - Di tích cấp quốc gia". Thế nhưng chính quốc lộ 14E đã cắt ngang con đường nội bộ của khu di tích nối liền hai khu vực Phật viện và Ao Vuông (Hoàng cung).
Cũng tại vị trí này có một đường đất khá lớn dẫn vào thôn Đồng Dương và Phật viện. Ngay đầu đường người ta dựng lên một cổng chào "Thôn văn hóa Đồng Dương". Nhưng theo chúng tôi đây có lẽ là con đường tai hại nhất xâm phạm nghiêm trọng đến khu di tích. Con đường chạy thẳng hướng Đông - Tây gần như tách đôi khu Phật viện, lòng đường lổm nhổm gạch Chăm. Từ con đường này người ta có thể đến với di tích một cách gần nhất nhưng nếu đi trên con đường này mãi sẽ chẳng còn một di tích nào để xem. Đường xé ngang thành ngoại và một góc thành nội, nằm đè lên những cụm kiến trúc chính chỉ còn lại nền móng.
![]() |
|
Ông Trà Díu bên từ đường họ Trà thôn Đồng Dương. |
Với con đường này người ta đã đào những hố thật lớn trong lòng Phật viện để lấy đất vì thuận lợi giao thông. Lòng đường nếu chỗ nào bị sình lầy, người ta sẽ lấy gạch đá có sẵn tại đây để lát. Nguyên một đà cửa đá to lớn hình chữ C thuộc tháp chính của Phật viện cũng bị người ta khiêng ra đây để gia cố. Từ con đường này chia ra các con đường phụ mà tác động phá hoại đến khu di tích cũng khá lớn. Con đường bên tay trái được bê tông hóa nằm chồng lên bức tường thành ngoại năm nào. Con đường bên tay phải cũng xé ngang thành ngoại của Phật viện, chồng chất gạch vỡ.
Vào trung tâm khu Phật viện lại càng não nề hơn. Dù hiện nay các tàn tích chỉ còn lại dưới dạng nền móng nhưng dường như sự phá hoại đang theo đuổi nó đến tận cùng. Ngay trong khu thành nội của Phật viện, một rừng tràm tươi tốt đang độ lớn mọc lên dày đặc. Khi lớn lên, gốc rễ của tràm chắc chắn "xô ngã" nền móng chỉ toàn gạch của di tích.
Một phần còn lại của tháp cổng chính trong khu Phật viện cũng đang oằn mình với những thanh chống bằng gỗ tạm bợ mục nát. Theo dân làng, thỉnh thoảng lại có người đến cướp đá tại khu vực đổ nát này đem đi bán làm đá xây vì đá ở đây có chất lượng thượng hạng.
Tấm bia đá khắc Phạn văn đổ vỡ thành nhiều mảnh, trên thân xuất hiện nhiều vết đục lạ. Đã có người định nã nó ra để… tìm kho báu. Có lẽ đó là bia Đồng Dương II được người Pháp phát hiện và dịch thuật năm nào. Trước đây đó là tấm bia dựng đứng, lành lặn, có bệ đỡ, bốn mặt khắc Phạn văn. Đây là chứng tích thành văn cho một nền Phật giáo và trung tâm chính trị Indrapura tại đây.
Nếu quan sát kĩ sẽ thấy thêm một cái lò gạch cũ nằm ngay trong khuôn viên thành ngoại, tất nhiên nó có sử dụng gạch Chăm. Bên cạnh đó, cái ao nội bộ được người ta khoanh vùng để chăn nuôi. Hàng trăm con vịt với hàng vạn cái lông trắng rải đều thành ngoại, một mùi hôi khó chịu bao trùm khu vực.
Trong những năm trước, khi thi công con đường 14E này người ta đã khai thác đá để làm đường nên những tảng đá trên đỉnh đã bị nã pháo xuống chân núi đục đẽo.
Tháp bên kia bờ suối thuộc thôn Quế An, xã Bình Định Bắc vào những năm 60 khi xây đập chắn nước làm thủy lợi và giao thông trên suối Ngọc Khô, chính quyền đã cho người lấy hết số gạch của tháp để xây đập chắn. Hiện tại đập chắn đã bị nước lũ phá hủy chỉ còn lại chân trụ bê tông cốt thép, số gạch bị trôi hết. Tại vị trí tháp hiện chỉ còn một số gạch vụn vương vãi, may ra chỉ còn nền móng bên dưới lớp đất bồi. Trong số các tháp còn lại một tháp có bia ký nằm trong lòng tháp, văn tự khắc 2 mặt nhưng đã bị người dân địa phương đào lấy làm cối đá.
Trong khu vực Ao Vuông trồng rất nhiều sen. Bờ thành phía Bắc của nó hiện nay là nơi đặt trụ sở của UBND xã Bình Định Bắc. Ao Vuông còn lại khá đẹp, nhưng những đoạn tường thành nhân tạo đang bị xe múc lấy đất san lấp phá vỡ. Mặc dù nơi đây đã được thủy lợi bao phủ nhưng người dân cũng đã xẻ thành lấy nước tưới tiêu làm phát lộ nhiều gạch nằm vương vãi.
"Xâm phạm đến khu di tích chỉ là sự vô tình của bà con. Bởi họ tỏ ra rất quan tâm và quý di tích nhưng họ không nhận thức được những việc như thế là xâm phạm di tích lịch sử", cụ ông Trà Díu thở dài khi nhìn về phế tích của kinh thành.
Thực trạng xuống cấp do cách quản lý, bảo vệ khu di tích Đồng Dương đang bị bỏ ngỏ. Còn với kinh đô Indrapura, do chưa có sự đầu tư nghiên cứu nên chưa có sự nhận thức đúng đắn về giá trị nên kinh thành đang dần bị lãng quên.
Đừng để di sản rơi vào lãng quên
Nếu so với hai khu kinh thành của Vương quốc Chămpa còn lại ngày nay được công nhận đó là kinh đô Sinhapura (Trà Kiệu - Duy Xuyên - Quảng Nam) và Vijaya (Nhơn Hậu - An Nhơn - Bình Ðịnh) thì kinh đô Indrapura có đủ điều kiện bảo tồn hơn cả. Bởi mật độ dân cư ở khu vực này rất thấp so với hai khu vực kia. Nếu tiến hành giải tỏa để thành lập hành lang đệm bảo vệ cho những cụm kiến trúc cơ bản sẽ dễ dàng hơn nhiều. Tuy dấu tích kinh thành hiện nay chỉ còn ở dạng nền móng nhưng phân khu chức năng lại rất rõ ràng và mạch lạc. Nếu được phát lộ bởi một cuộc khai quật khảo cổ quy mô và khoa học chắc chắn nơi đây sẽ trở thành một địa điểm du lịch, nghiên cứu, giáo dục lí thú.
Tất nhiên đó là những dự án dành cho tương lai. Điều quan trọng là ngay bây giờ chúng ta phải bảo vệ nguyên trạng những gì còn có thể để tránh việc nó bị xóa sổ trong nay mai. Cụ thể hơn, chúng ta phải nhanh chóng phá bỏ ngay rừng tràm được trồng trong khuôn viên di tích, mở mới những con đường nội bộ đi vào thôn Đồng Dương sao cho không xâm phạm hành lang bảo vệ di tích. Chấm dứt ngay việc khai thác đất ở khu vực Ao Vuông cũng như việc tự do xẻ thành để lấy nước phục vụ cho tưới tiêu.
"Nếu chúng ta bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào chúng ta bằng đại bác...". Đúng vậy! Tương lai chỉ dành cho những người biết sống cho hiện tại nhưng không quên nguồn gốc. Chúng ta đang sống, đang hướng về tương lai với những kỳ vọng tươi đẹp về một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Vì thế giữ gìn và phát huy tinh hoa của cha ông là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Đừng để thế hệ trẻ ngơ ngác khi đặt chân về quá khứ.n
Ít ai biết rằng tại huyện Thăng Bình, Quảng




