Hành trình hoàn lương của giang hồ cô độc
Gã giang hồ cô đơn
Nhìn Phạm Thế Thanh bây giờ, không ai nghĩ rằng người đàn ông có dáng người nhỏ bé này từng có hàng chục năm trời vùng vẫy giang hồ với biệt danh Thanh "đại bàng". Quê ông ở thôn Lương Yến, xã Lương Yên, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Những năm tháng tuổi thơ bất hạnh và những ký ức buồn về một gia đình không trọn vẹn đã khiến cuộc đời Phạm Thế Thanh có những bước ngoặt đầy sóng gió.
Phạm Thế Thanh kể, quê nội ông ở Quảng Bình, quê ngoại ở Huế. Cha mẹ ông đến với nhau mà không được sự đồng ý của ông bà nội nên cuối cùng buộc phải xa nhau. Ngay từ khi còn nhỏ, Phạm Thế Thanh đã không được sống cùng cha mẹ mà sống cùng ông bà nội. Sau này khi ông bà nội mất, cậu bé Phạm Thế Thanh sống dựa vào sự cưu mang của người cô ruột.
Từ lúc còn là một đứa trẻ cho đến khi trưởng thành, mong ước lớn nhất của Phạm Thế Thanh là đi tìm cha để cha con được đoàn tụ. Nhưng khi Phạm Thế Thanh lớn lên thì cũng là lúc đất nước đang chia cắt 2 miền Nam - Bắc. Cha ông lại ở miền Nam, nên việc vào Nam tìm cha đối với Phạm Thế Thanh lúc ấy gần như là một điều không thể. Lớn lên không có cha mẹ, không có tình yêu thương thực sự của những người thân yêu ruột thịt nhất, ngay từ lúc còn trẻ, Phạm Thế Thanh đã cảm thấy cuộc đời mình chênh vênh. Nhưng không chỉ thiệt thòi về tình cảm, việc có nhân thân không rõ ràng, cha mẹ sống ở miền Nam còn khiến Phạm Thế Thanh có một bản lý lịch không sáng tỏ. Bản lý lịch đó khiến cho ông dù muốn làm gì cũng khó.
Ông kể: "Những năm chiến tranh khốc liệt nhất, như bao thanh niên khác, tôi hào hứng đăng ký đi bộ đội, để được vào chiến đấu ở chiến trường. Nhưng với bản lý lịch ghi gia đình sống ở miền
Có lẽ, đó chính là thời điểm mà cậu thanh niên Phạm Thế Thanh bắt đầu trượt dốc và xa rời cuộc sống lương thiện. Phạm Thế Thanh bắt đầu "ghi tên" mình trong giới giang hồ kể từ khi ra Nghệ An học nghề sửa đồng hồ, với những vụ đánh nhau như một cách mà Phạm Thế Thanh coi là để "khẳng định bản thân" mình. Những cái đó đã ngấm dần vào con người Phạm Thế Thanh, khiến Phạm Thế Thanh - từ một người thanh niên hiền lành - trở thành một kẻ có máu giang hồ lúc nào không hay.
Năm 1971, vì những trận thanh toán giang hồ, Phạm Thế Thanh lần đầu tiên biết thế nào là tù tội ở trại giam Đồng Sơn (Quảng Bình). Nhưng việc vào tù không làm cho Thanh thức tỉnh. Ở trong tù, chỉ cần có điều gì thấy chướng tai gai mắt, hay bị "đại ca" nào xúc phạm hoặc bắt nạt là Phạm Thế Thanh sẵn sàng "ăn miếng trả miếng". Có lần trong trại giam, Thanh đã đánh một phạm nhân đến gẫy xương, khiến phạm nhân đó phải nằm viện suốt một thời gian dài. Cán bộ trại giam đã thực hiện nhiều hình thức kỷ luật với Thanh, từ cảnh cáo, hạ bậc xếp loại đến giam riêng. Nhưng tất cả những điều đó không khiến Thanh thay đổi.
Chính bởi những hành vi côn đồ trong trại giam mà Phạm Thế Thanh bị chuyển hết trại giam này sang trại giam khác, từ trại Đồng Sơn - Quảng Bình ra trại giam số 3 ở Tân Kỳ - Nghệ An. Nhưng ở đâu, Phạm Thế Thanh cũng không bỏ được cái "sở thích" khẳng định mình như một "đại bàng" sau song sắt. Sau khi mãn hạn tù lần thứ nhất, Phạm Thế Thanh nhanh chóng trở về cuộc sống ăn chơi trác táng và quay lại con đường phạm pháp. Chỉ một thời gian ngắn sau, Thanh lại phải quay lại trại giam lần thứ hai, sau khi bị bắt vì tội buôn lậu.
Những ngày ở trong trại giam, Thanh mới phát hiện ra mình thực sự cô đơn, khi không có người thân, họ hàng đến thăm nuôi, chăm sóc như những phạm nhân khác. Biết tâm trạng của Thanh bất an, cán bộ trại giam số 3 (Nghệ An) đã đặc biệt quan tâm, động viên Thanh. Không chỉ tin tưởng giao cho Thanh 1 "chức" trong đội tự quản phạm nhân, mà khi Thanh ra tù, Giám thị trại giam số 3 khi ấy còn cho Thanh thêm tiền và quần áo về quê, dặn dò Thanh khi ra tù cố gắng trở thành người lương thiện, có ích cho đời. Cử chỉ đó khiến Phạm Thế Thanh vô cùng cảm động. Ngày rời khỏi đó, Thanh đã hứa mình nhất định sẽ làm lại cuộc đời, để không phụ lòng những người đã đối tốt với mình.
Ông chủ nhỏ bên dòng Nhật Lệ
Ra tù khi đã gần 40 tuổi, Phạm Thế Thanh trở về quê ở Quảng Ninh, Quảng Bình với hai bàn tay trắng. Ông dựng một túp lều nhỏ ở mảnh đất hoang ven đường, làm nghề vá xe đạp và bán vài ba thứ bánh kẹo lặt vặt. Dù cố gắng sống một cuộc sống lương thiện, nhưng cái "vết đen" của một kẻ 2 lần tù tội đã khiến ông bị nhiều người xung quanh xa lánh, kỳ thị. Đáp lại sự kỳ thị đó, ông chẳng nói gì mà chỉ lẳng lặng làm việc, để dần chứng tỏ khát khao hoàn lương thực sự trong con người mình. Dần dần, khi những người xung quanh nhận ra ông đã gột sạch "chất" giang hồ, họ đã đón nhận ông, và coi ông như những người bình thường khác, xóa tan những mặc cảm trước nay.
Phạm Thế Thanh kể: "Lúc mới ra tù, tôi cũng chẳng dám mơ gì chuyện vợ con, bởi nghĩ người như mình ai mà dám lấy. Nhưng rồi dần dần thấy tôi sống hiền lành, tu chí, nhiều người xung quanh bắt đầu giục tôi lấy vợ. Họ đi làm mai, làm mối cho tôi, giới thiệu tôi gặp bà nhà tôi bây giờ. Được cái bà nhà tôi cũng là người đơn giản, chân thành. Bà ấy không so đo về quá khứ của tôi. Vì thế mà chúng tôi đến với nhau. Nhưng khi tính chuyện cưới xin, chúng tôi vấp phải sự phản đối quyết liệt của gia đình bà ấy. Lúc đó bố mẹ vợ tôi tuyệt đối ngăn cấm chúng tôi đến với nhau, thậm chí còn dọa từ mặt vợ tôi nếu không nghe lời. Để thuyết phục bố mẹ vợ tôi, anh trưởng công an huyện còn phải đến tận nhà nói đỡ cho tôi vài lời với các cụ, các cụ mới đồng ý".
Ngay cả khi đã đồng ý với cuộc hôn nhân này, bố mẹ vợ của Phạm Thế Thanh vẫn không hết lo lắng về cậu con rể "lừng lẫy" một thời. Lúc nào họ cũng lo sợ rồi ông sẽ "ngựa quen đường cũ" và quay trở về cuộc sống giang hồ, làm khổ vợ con. Nhưng qua năm tháng, Phạm Thế Thanh đã ngày càng lấy được niềm tin của gia đình nhà vợ và của những người xung quanh, bằng chính sự tu chí, chịu khó làm lụng và kiên trì vượt qua khó khăn của mình.
Lúc mới lấy nhau về, vợ chồng Phạm Thế Thanh sống trong một căn nhà lụp xụp, tạm bợ, dựng tạm lên để che mưa, che nắng, tài sản chẳng có gì đáng kể. Nhưng sau khi đã trở thành người chủ gia đình, ý thức được mình phải có trách nhiệm của một người chồng, một người cha, Phạm Thế Thanh đã lao vào làm việc, nhặt nhạnh, dành dụm từng chút để lo cái ăn, cái mặc cho cả gia đình.
Từ việc buôn bán những thứ nhỏ nhặt như cái bánh, cái kẹo, một vài lít dầu mỡ mỗi ngày, dần dần ông tích cóp được một số tiền lớn và dành tiền mở mỏ khai thác sắt. Nhưng công việc làm ăn không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Đã có lúc việc làm ăn thất bại, mỏ sắt buộc phải đóng cửa, ông rơi vào cảnh tay trắng với nợ nần chồng chất. Nhưng ngay cả lúc đó, ông cũng không bao giờ nản chí.
Bởi ông bảo ông đã vượt qua được những ngày tháng còn khó khăn hơn thế trong đời, vượt qua được nỗi đau, sự mặc cảm và vượt qua được những cám dỗ để trở lại làm người lương thiện. Nên mỗi thất bại mà ông gặp phải sau này, ông đều chỉ coi như một thử thách trên con đường mà mình đang đi, một thử thách mà dù sớm dù muộn ông cũng nhất định sẽ vượt qua.
Chính vì không bao giờ chịu thất bại, nên sau mỗi thất bại, ông lại tìm tòi hướng đi mới. Thất bại trong việc khai thác mỏ, khi lo lắng nợ nần xong xuôi, nắm bắt được xu hướng, ông lại chuyển sang làm gỗ lũa. 5 năm trở lại đây, xưởng làm gỗ lũa của ông đã tạo ra những sản phẩm lũa đầy nghệ thuật chỉ bằng những thân cây, gốc cây đã chết, khiến rất nhiều khách hàng ở nhiều tỉnh, kể cả trong Nam, ngoài Bắc ưa thích.
Gã giang hồ ngày xưa giờ đã trở thành một ông chủ nhỏ bên dòng sông Nhật Lệ. Xưởng gỗ lũa không chỉ giúp gia đình ông có một cơ ngơi vững vàng mà còn tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động trong vùng. Nhưng ông bảo, điều quan trọng không phải là ông kiếm được bao nhiêu tiền từ công việc mình đang làm, mà quan trọng là nhờ công việc đó ông thấy mình thanh thản vì đã và đang sống một cuộc đời lương thiện, có ích cho xã hội
