Có một ngôi làng cổ 4000 năm
Làng của những trí thức lớn
Nhiều người sẽ ngạc nhiên khi bước chân về ngôi làng cổ này. Bởi bên ngoài cái vẻ ồn ào của phố thị, làng Phù Lưu vẫn giữ được những vẻ trầm mặc cổ kính của nó. Khi bước chân qua cổng làng, chúng tôi đã bắt gặp một con đường lát đá xanh. Bác Nguyễn Tiến Dũng, Bí thư Chi bộ làng Phù Lưu kể lại, con đường này do cụ Hoàng Thùy Chi, Tổng trấn Bắc Giang chỉ đạo khởi công xây dựng từ năm 1993 đến năm 1943 mới xong.
Con đường lát đá xanh làm thành một vạch xương sống vòng quanh làng. ở những trục đường chính, được lát 4 viên gạch, còn những trục đường phụ chỉ có 2 viên. Qua bao vật đổi sao dời, con đường vẫn còn nguyên dáng vẻ của nó, xanh mát và đều chằn chặn, không cong vênh, gồ ghề. Trong văn bia còn lưu lại ở đình làng Phù Lưu viết rằng, Phù Lưu phát triển kinh tế từ rất sớm, khoảng thế kỷ XVI -XVII đã có những dòng họ lớn có đóng góp cho địa phương 400 quan tiền và 1, 2 gánh gạo.
Cũng từ ngôi làng này, sinh ra rất nhiều người con nổi tiếng, khiến dân làng Phù Lưu đi đâu cũng có quyền tự hào. Từ xa xưa, làng đã có cụ Chu Tam Dị đậu tiến sĩ năm 1529. Còn thời nay, làng Phù Lưu đã sinh ra nhiều tên tuổi lớn: nhà báo Hoàng Tích Chu, người đã làm một cuộc cách tân làm thay đổi hẳn phong cách của báo chí Việt Nam đầu thế kỷ XX; họa sỹ Hoàng Tích Chù, người đã nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh; nhà văn Kim Lân, nhà văn Nguyễn Địch Dũng, nhà thơ Hoàng Hưng; nhà quay phim, NSND Nguyễn Đăng Bẩy, nhạc sỹ Hồ Bắc, họa sỹ Thành Chương, họa sỹ Nguyễn Thị Hiền.
![]() |
| Cổng vào làng Phù Lưu và con đường lát đá xanh. |
Đường binh nghiệp có đến vài chục vị mang hàm cấp tướng cấp tá, nổi bật nhất là Trung tướng Chu Duy Kính - nguyên Tư lệnh Quân khu Thủ đô. Đường quan chức có nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính Chu Tam Thức; ông Hồ Tiến Nghị - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trợ lý Tổng Bí thư… Về khoa học phải kể đến giáo sư sử học Phạm Xuân Nam, Giáo sư ngữ văn Chu Xuân Diên; Giáo sư toán học Hồ Bá Thuần. Và tôi tin sẽ có nhiều người Phù Lưu thành danh trong tương lai hơn nữa.
Làng có nhiều bố mẹ nuôi nhất nước
Nhưng những di sản của làng cổ Phù Lưu không chỉ là con người. Có về Phù Lưu, nói chuyện với những người dân nơi đây, mới hiểu vì sao, trong khi nhiều nơi về cơ bản đã xóa xong làng cổ, thì vẫn còn một Phù Lưu trầm mặc và cổ kính đến thế. Cụ Lê Trần Thúy đọc hai câu chữ Hán nói về làng Phù Lưu: "Hồng Bàng tứ thiên dư niên cổ ấp; Bang hoa lục thập mẫu hồ cư dân" (Một ấp cổ có trên 4.000 nghìn năm, từ thời Hồng Bàng; Bên cạnh hồ gần 60 mẫu).
Làng hình mai rùa thoát nước nhanh, cận giang, cận thị, cận lộ, Phù Lưu đã sớm trở thành một trung tâm buôn bán trong vùng. Theo quan niệm phong thủy: Đầm Loa Hồ (một khúc của sông Tiêu Tương) có hình dáng như một cái đẫy lớn, mà làng Phù Lưu lại ở vào đáy đẫy nên dân làng có nghề buôn bán từ xưa.
Vào những thế kỷ XV, XVI, Phù Lưu đã là một chợ mang tên Thôn Thị buôn bán rất sầm uất". Nhưng điều đặc biệt làm nên nên nét riêng của làng Phù Lưu, đó là một ngôi làng mở chứ không đóng kín sau lũy tre như nhiều làng quê Việt. Phù Lưu là làng thôn thị. Người dân ở đây sống chủ yếu bằng nghề buôn bán, giao lưu rộng ở khắp nơi. Người dân tứ xứ khắp miền Bắc cũng đổ về đây. Chợ được chia thành từng khu rất quy cũ.
Chỗ đình làng chùa là các sạp vải, một phiên chợ có đến 7-8 sạp vải Ấn Độ. Dịch giả Thúy Toàn còn nhớ ngày còn nhỏ theo mẹ chen chân đi chợ, thấy phía trước bạt ngàn các sạp đồ khác nhau. Nhưng bên cạnh khu chợ, là mái đình làng Phù Lưu cong vút, vẫn còn nguyên nét kiến trúc độc đáo như ván nong chạm trổ hình rồng chầu mặt nguyệt, trên lưng có hình tiên nữ cánh phượng…
Bên cạnh đình là Pháp Quang Tự, ngôi chùa với tháp chuông được xây dựng từ xa xưa. Dịch giả Thúy Toàn nói: "Làng Phù Lưu có 4 công trình lớn, trong đó có 3 công trình được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia là đình làng, chùa và đền Phù Lưu. Di tích Hương Hiền từ được dựng lên để tôn vinh những nhà khoa bảng và người hiền trong làng".
Từ thuở xa xưa ấy, Phù Lưu đã hình thành một kiểu làng hoàn toàn khác biệt, làng trong phố, phố trong làng. Phố thì có nhiều ngôi nhà xây kiểu tây, sinh hoạt theo kiểu phố. Còn làng, có những ngôi nhà cổ, vẫn sinh hoạt theo kiểu làng. Sự đa dạng về văn hoá ấy vẫn tồn tại bình yên trong mái làng Phù Lưu từ xưa đến nay. Và cũng chính thói quen sinh hoạt thôn thị đó đã hình thành nên những nét văn hóa đặc trưng của làng Phù Lưu.
Dân ở đây hầu như không làm ruộng, ruộng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Mà chủ yếu buôn bán. Phụ nữ Phù Lưu nổi tiếng buôn bán giỏi nuôi chồng nuôi con ăn học, có câu ca truyền tụng về phụ nữ Phù Lưu rằng, "Ngang lưng em có một đồng. Nhưng vẫn nuôi chồng ăn học rảnh ranh". Hầu hết các bà mẹ quanh năm lo làm ăn ở các tỉnh xa, nên phải nuôi vú em, hoặc gửi con nuôi ở các gia đình làng bên nuôi giúp từ tấm bé, đến khi đi học mới đón về.
![]() |
| Dịch giả Thúy Toàn và cụ Lê Trần Thúy đang kể về ngôi làng của mình. |
Thế nên, mới có truyền tụng rằng, Phù Lưu là làng có nhiều bố mẹ nuôi nhất nước, và người nào trên 60 tuổi không có bố mẹ nuôi thì không phải là người làng Phù Lưu. Sự đảm đang tháo vát của phụ nữ Phù Lưu đã góp phần xây dựng nên một tầng lớp trí thức nông thôn, những ông thông, ông phán, rồi sau này là những kỹ sư bác sĩ. Và cùng với truyền thống hiếu học, nên làng này có rất nhiều khoa bảng. Sách "Đồng khánh dư địa chí" viết "Phù Lưu là tổng có nhiều người đỗ đạt nhất huyện".
Vẫn còn làng cổ
Đó là khẳng định của những người dân làng Phù Lưu. Trong cơn lốc của đô thị hóa, một số ngôi nhà cổ ở làng Phù Lưu đã bị phá đi xây thành nhà tầng. Nhưng không phải đến bây giờ, mà ngay từ năm 1945, làng Phù Lưu đã có những nếp sống hiện đại, văn minh theo kiểu sinh hoạt của thị dân. Làng có những ngôi nhà cao tầng, có cột đèn, sáu giờ tối đã có người đi châm đèn chẳng khác gì Hà Nội.
Ngày đó, ở đây cũng đã có những hàng phở gánh bán rong. Hồi đó Phù Lưu chỉ thua Hà Nội hai thứ, nước tự chảy (nước máy) và điện. Nhưng bên cạnh sự hiện đại quy củ đó, vẫn còn không ít những nếp nhà cổ bình yên nép mình dưới những con đường làng quen thuộc. Làng Phù Lưu hiện nay còn lại hơn 10 ngôi nhà cổ có niên đại từ khoảng 200 năm. Làng còn 16 nhà thờ họ, trong đó có một nhà thờ được công nhận là di tích lịch sử Quốc gia, uy nghiêm cổ kính.
Tôi được đến thăm nhà thờ của dòng họ Hoàng. Ngôi nhà có niên đại trên 200 năm, cổ xưa, trầm mặc. Trong xu thế ở nhiều làng quê Việt, những người con đi làm ăn xa, về cố xây những nhà thờ họ thật to, thật hoành tráng, nhưng họ không hiểu, thiếu đi cái nghiêm cẩn, cổ xưa, thì khó làm nên sự linh thiêng của những nhà thờ họ.
Đi một vòng quanh ngôi làng Phù Lưu của dịch giả Thúy Toàn, tôi và bất cứ ai về đây cũng đều cảm nhận được sự hiện hữu của ngôi làng cổ này, không chỉ ở mái đình cong vút, không chỉ ở cái cổng làng rêu phong cổ kính hay cả hệ thống nhà cổ còn lại được người dân nơi đây ra sức gìn giữ. Mà cảm nhận được ở đó, cái hồn cốt của một ngôi làng giàu bản sắc văn hóa, cởi mở và hòa nhập nhưng vẫn giữ được chất riêng của mình. Đó mới là thứ làm nên giá trị cổ xưa của ngôi làng này.
Tôi đã từng đến Cự Đà trong một ngày mưa tầm tã, và đau đớn khi chứng kiến từng đoàn công nông đang rầm rập kéo vào ngôi làng biến nó thành một công trường. Cự Đà, ngôi làng cổ trong lòng Hà Nội chỉ còn trong ký ức của những người yêu di sản.
Thực ra làng cổ không chỉ nằm ở những giá trị văn hóa vật thể như nhà cổ, hay những mái đình cổ, mà còn ở hồn cốt văn hóa của ngôi làng, ở những giá trị tinh thần được gây dựng nên từ ngàn đời xưa, qua bao biến động của thời cuộc vẫn được giữ gìn, vun đắp. Cự Đà thiếu đi điều đó. Và buồn hơn thế, Cự Đà thiếu đi ý thức của người dân.
Về Phù Lưu, mới hiểu vì sao, qua bao nhiêu sự phát triển, một ngôi làng trong phố, những giá trị khập khểnh giữa truyền thống và hiện đại vẫn tồn tại song hành. Bởi người dân Phù Lưu có ý thức giữ gìn. Tiền đền bù họ không dùng để phá nhà cũ xây nhà mới, mà đưa vào quỹ chung của làng để cùng tu sửa.
Ông Nguyễn Tiến Hùng - Bí thư chi bộ Phù Lưu lý giải: "Trước hết phải nói người dân rất tự hào và có ý thức bảo vệ vốn cổ. Dù bây giờ kinh tế khá giả, nhưng dân làng vẫn gìn giữ từng viên đá viên gạch lát đường, cổng làng, đình làng, chùa, đền Phù Lưu tôn tạo nhưng vẫn giữ nguyên mẫu. Nét văn hóa cổ truyền của làng từ phong tục tập quán đến lễ hội vẫn ăn sâu tâm thức người dân".
Tôi và bất cứ ai về Phù Lưu đều cảm nhận được tình yêu làng đã trở thành máu thịt trong mỗi người dân nơi đây. Và mới hiểu, vì sao ngày xưa nhà văn Kim Lân viết về làng của mình hay đến thế. Khi mất, ông cũng chỉ có một tâm nguyện, được đưa về làng… Còn dịch giả Thúy Toàn, người nhiều tâm huyết với ngôi làng của mình, đang muốn biến ngôi nhà của bố mẹ thành một bảo tàng văn học Nga…
Vẫn còn đó câu ca quyến rũ về làng Phù Lưu, Ai lên quán Dốc chợ Giầu/ Để thương để nhớ để sầu cho khách đường xa. Và tôi tin, đó không chỉ là câu ca của ký ức…


