Hai bà vợ kiện một ông chồng
Cuối năm 2007, bà N.T.K., ngụ tại phường 4, thị xã Tân An (Long An) làm đơn xin ly hôn với ông V.C.B., Giám đốc Công ty TNHH Phương Nga. Bà K. yêu cầu tòa án địa phương xử chia đôi khối tài sản 51,9 tỷ đồng, bao gồm hai khách sạn Phương Nga 1 và Phương Nga 2 và nhiều bất động sản khác.
Theo bà K. trình bày, bà và ông B. chung sống từ năm 1986, nhưng đến năm 1997 mới đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, hai người có với nhau hai đứa con. Một đã trưởng thành, một chưa thành niên.
Trước khi về sống với ông B., bà K. dành dụm được 45 cây vàng và nhờ vào số vàng này đã giúp hai người tạo dựng nên sản nghiệp hôm nay. Sở dĩ bà K. ly hôn là do ông B. đem một người phụ nữ tên D. ở Bến Lức về chung sống như vợ chồng trong lúc bà ngã bệnh.
Giữa năm 2007, ông B. và bà D. đuổi bà K. ra khỏi công ty, phải về cư trú tại phường 4. Công ty Phương Nga, tiền thân là nhà trọ Phương Nga, là do bà K. sáng lập, có lúc bà đứng tên chủ doanh nghiệp. Ông B. không chấp nhận chia đôi tài sản, phủ nhận mọi sự đóng góp của bà K. và cho rằng sở dĩ có sản nghiệp này là nhờ vào đồng vốn do ông và người vợ lớn tạo dựng nên. Người vợ này tên là P.T.Tr., ngụ tại xã Long Trì, huyện Châu Thành (Long An). Ông B. khai nhận đã chung sống như vợ chồng với bà Tr. từ năm 1977, có hai người con.
Mặc dù kết hôn với bà K. nhưng ông vẫn còn quan hệ vợ chồng, làm tròn trách nhiệm của người cha cho đến nay. Bà Tr. cũng đã có đơn gửi TAND thị xã Tân An yêu cầu xử ông B. hoàn trả cho bà 200 cây vàng trước khi phân chia tài sản giữa ông và bà K.
Tuy nhiên, vào ngày 12/5, trong phiên xử đầu tiên, bà Tr. đơn phương rút đơn khởi kiện đòi ông B. trả 200 cây vàng với lý do là hôn nhân của họ chưa chấm dứt, xem đó là tài sản chung.
Ngày 13/5, tòa xử bác đơn chia đôi tài sản của bà K. với ông B. Lý do mà tòa đưa ra là hôn nhân của bà K. với ông B. là trái pháp luật, còn hôn nhân giữa bà Tr. với ông B. là hôn nhân thực tế, được pháp luật bảo vệ. Vì theo Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành, những người chung sống như vợ chồng từ trước năm 1987 mà không đăng ký kết hôn đều được xem là hôn nhân thực tế.
Trong vụ kiện này, bà Tr. chung sống với ông B. từ năm 1977 đến nay (có sự xác nhận của UBND xã Long Trì) được xem là vợ hợp pháp của ông B... Còn bà K. dù có đăng ký kết hôn nhưng trái luật do tình trạng hôn nhân giữa ông B. và bà Tr. chưa kết thúc, cần phải hủy. Theo đó, tài sản của ai thì thuộc sở hữu của người đó.
Trong vụ kiện này, bà K. không có chứng cứ chứng minh đã góp phần tạo nên khối tài sản mà ông B. đang quản lý nên không thể xử chia đôi theo đơn yêu cầu. Tòa chỉ xử chia cho bà K. 1,5 tỷ đồng trong khối tài sản được định giá là 51,9 tỷ đồng, vì xét bà có công quản lý khách sạn Phương Nga 1 trong vòng 3 năm. Ngoài ra, bà K. còn phải nộp trên 100 triệu đồng tiền án phí, chi phí giám định, định giá tài sản.
Theo một luật sư ở Long An, TAND thị xã Tân An xử như vậy là gây thiệt hại lớn cho bà K. Nói đúng hơn là chưa xem xét thấu đáo quyền lợi của người phụ nữ trong một vụ án ly hôn này. Trong khi đó, pháp luật quy định khi xử ly hôn phải xem xét đến yếu tố bảo vệ quyền lợi người phụ nữ và trẻ em.
Nói gì thì nói, trong suốt 23 năm qua, bà K. vẫn được pháp luật thừa nhận là vợ hợp pháp của ông B. qua giấy đăng ký kết hôn do chính quyền địa phương cấp. Vì vậy, bà phải được xử chia đôi khối tài sản được tạo dựng nên trong thời kỳ hôn nhân với ông B. Vì trong suốt thời gian đó, bà Tr. không hề khiếu nại, điều đó cho thấy bà Tr. chấp nhận cuộc hôn nhân này.
Không thể biện dẫn các đối tác làm ăn với ông B. không biết bà K. để công nhận khối tài sản đó là do ông B. tạo nên để bác công lao đóng góp của bà K. Vì nó đã được tạo ra trước khi tòa xử hủy hôn nhân giữa bà K. với ông B.
Xét trên thực tế, trong khoảng thời gian chưa bị hủy hôn, bà K. chính là người vợ hợp pháp của ông B., phải được xem là đồng sở hữu khối tài sản mà ông B. đang quản lý. Vị luật sư này còn tiết lộ, trong nhiều lần hòa giải trước đó, ông B. không hề đề cập đến bà Tr. là vợ, nhưng sau đó lại đưa vào một cách khó hiểu.
Việc bà Tr. rút đơn kiện ông B. trả 200 cây vàng, chấp nhận nộp án phí 20 triệu đồng để được lợi là người đồng sở hữu khối tài sản kếch xù mà ông B. đang nắm giữ. Qua vụ án này, ai cũng thấy rõ ông B. là người vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, nhưng tòa không đề cập đến việc phải xử lý ra sao.
Ngay khi tòa tuyên xử xong, bà K. chỉ biết kêu trời, vì xem như mình đã bị ông B. tước mất tất cả. Bà cho biết sẽ kháng cáo yêu cầu tòa phúc thẩm xem xét tính hợp pháp việc cấp sơ thẩm xử hủy hôn thay vì ly hôn để được xử chia đôi tài sản với ông B..
