Bộ NN&PTNT vừa công bố danh sách các địa phương để mất rừng, đất lâm nghiệp với diện tích lớn, trong đó tỉnh Thừa Thiên Huế giảm đến 807ha rừng tự nhiên. Liên quan đến vấn đề này, chiều 16/6, Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết, nguyên nhân mất rừng là do quá trình đo đạc và kiểm kê rừng dẫn đến dữ liệu bị... “sai khác”.

Theo Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2018, diện tích rừng tự nhiên toàn tỉnh là 212.180,45 ha; năm 2019, diện tích rừng còn 211.373,11 ha, giảm 807,34 ha so với năm 2018.

Nhiều diện tích rừng tự nhiên ở tỉnh Thừa Thiên Huế mất đi do nạn phá rừng trái phép.

Cụ thể, cháy rừng làm giảm 0,14 ha. Diện tích rừng bị cháy là rừng gỗ tự nhiên, thuộc xã Hương Giang và Thượng Lộ (huyện Nam Đông), chủ rừng là cộng đồng dân cư thôn Phú Ninh và La Hố. 

Phá rừng trái pháp luật, lấn chiếm rừng làm giảm 10,35 ha xảy ra trên địa bàn các huyện A Lưới (1,87 ha); Nam Đông (7,25 ha); Phong Điền (0,78 ha); Phú Lộc (0,4 ha) và Phú Vang (0,05ha), trong đó có 7 ha rừng gỗ tự nhiên và 3,35 ha rừng hỗn giao gỗ, tre nứa tự nhiên. Sạt lở gây mất 11,26 ha rừng gỗ tự nhiên nằm trong khu vực làm đường 74, xã Thượng Quảng, huyện Nam Đông.

Ngoài ra, do sai khác dữ liệu giữa hiện trạng rừng tại bản đồ kiểm kê rừng năm 2016 và hiện trạng rừng năm 2018 nên phải điều chỉnh giảm 785,59 ha. Hiện trạng sai khác này khiến diện tích rừng tự nhiên mất đi nhưng diện tích đất trống (+391,59 ha) và diện tích rừng trồng (+394 ha) tăng lên. 

Phần diện tích sai khác hiện trạng này thuộc địa bàn 6 huyện, thị xã gồm: A Lưới (187,28 ha), Nam Đông (176,27 ha), Phong Điền (233,52 ha), Phú Lộc (78,26 ha), Hương Thủy (22,05 ha), Hương Trà (88,21 ha).

Trong 785,59 ha rừng tự nhiên sai khác hiện trạng, có 663,01 ha rừng gỗ tự nhiên, 118,39 ha rừng hỗn giao gỗ, tre nứa tự nhiên và 4,19 ha rừng tre nứa tự nhiên.

Phá rừng, cháy rừng là một trong số các nguyên nhân làm giảm diện tích rừng tự nhiên ở Thừa Thiên Huế.

Sở NN&PTNT tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết, việc sai khác hiện trạng rừng tự nhiên là do quá trình kiểm kê rừng năm 2016, tỉnh không thực hiện kiểm kê các diện tích rừng đã nằm trong phạm vi chi trả dịch vụ môi trường rừng mà chỉ kế thừa số liệu (hồ sơ, bản đồ) của Quỹ Bảo vệ phát triển rừng tỉnh nên có 495,63 ha rừng tự nhiên được ghi nhận trên dữ liệu kiểm kê. 

Ngoài ra, theo quy trình kiểm kê rừng, việc kiểm kê rừng tại các địa phương dựa trên kết quả điều tra rừng được Viện Điều tra quy, hoạch rừng (Bộ NN&PTNT) bàn giao. 

Tuy nhiên, kết quả điều tra này cũng có nhiều sai khác do nhiều lý do kỹ thuật khác nhau (chất lượng nguồn ảnh viễn thám, ảnh từ google earth,…) khiến việc kiểm kê mặt đất cũng bị sai khác so với thực tế. Do đó có 289,96 ha rừng tự nhiên được ghi nhận trên dữ liệu kiểm kê nhưng thực tế là rừng trồng.


Anh Khoa