Lăng mộ Kinh Dương Vương, đền thờ thủy tổ nước Nam và Âu Cơ - Lạc Long Quân ở làng Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, cách làng tôi chưa đầy 2 cây số. Ở đấy đang lưu giữ các chứng tích lịch sử về ông nội vua Hùng. Và mấy năm gần đây Nhà nước tổ chức ngày giỗ Tổ Kinh Dương Vương to lắm.

Vậy, hiển nhiên là con, cháu, chắt... các ngài có sinh sống ở nơi đây. Và, còn biết bao huyền thoại, truyền thuyết, dã sử... cho thấy Bút Tháp là vùng đất cổ. Thiên nhiên, con người được mở mang từ sớm nhất, một vùng lúa nước, dâu tằm, tơ lụa và nhiều nghề nuôi sống con người. Sông Đuống “nằm nghiêng nghiêng” kéo dài dọc đê Đuống, lưu thông từ sông Hồng tới Lục đầu giang. Và khu rừng rậm, lau sậy, bãi bờ... mãi những năm gần đây vẫn còn nhiều dấu tích.

Ngày nay, Bút Tháp vừa đậm nét cổ kính, vừa sáng bừng “nông thôn mới” muôn màu muôn vẻ.

Tháp Báo Nghiêm chùa Bút Tháp (Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt).

Chỉ xin điểm qua là vậy. Còn đây là nhân kỷ niệm 73 năm ngày Truyền thống CAND và 70 năm ngày mở lại bến đò Bút Tháp - Dền, phục vụ cho sự nghiệp đánh đuổi thực dân xâm lược. 

Bài viết này dựa theo câu chuyện do các cán bộ lão thành kể lại, nói về bến đò, dòng sông Đuống, về những cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nơi đây, về đồng chí Tô Quyền - nguyên là cán bộ Công an tỉnh Bắc Ninh “nằm vùng”. Sau là Đại tá, Cục trưởng và được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tất thảy gợi nhớ thương da diết, gợi niềm tự hào mãnh liệt và hơn cả là gợi lại truyền thống đánh giặc, giữ nước, nhắc nhở đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”...

Bút Tháp thuộc xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh). Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp nhiều gian nan, đau thương, mất mát suốt 9 năm ròng. Họ - những cán bộ cách mạng, chiến sĩ công an luôn đồng cam cộng khổ với dân - đã làm nên những sự tích phi thường, dẫu kẻ thù đóng ngay bên cạnh. Bốt Á Lữ, bốt Đậu ngày đêm đàn áp, o ép nhiều bề. 

Song, họ nhất định không nhường bước, không chịu lập “tề”, không chịu xây lô cốt bảo an dưới bất kỳ hình thức nào, nhất định ngăn chặn âm mưu “dùng người Việt trị người Việt”. Ý chí kiên cường ấy đã làm nên giá trị quý hơn vàng: Đỡ tổn hại máu xương cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước, để cả xã trở thành địa bàn vững mạnh, giúp cho huyện và các xã bạn có nơi trú chân, làm bàn đạp giành lại đất mình.

Từ năm 1953 đến 1954, nơi này đã luôn làm cho giặc khốn đốn. Có trận cùng bộ đội chủ lực đánh tan cả tiểu đoàn quân cơ động tinh nhuệ của địch đến càn, diệt hàng trăm tên (20 tháng Giêng, 1954). Cái phi thường, kỳ lạ còn ở chỗ những người đảng viên và quần chúng trung kiên dẫn đầu là đồng chí Hùng Khánh, Bí thư chi bộ xã Đình Tổ dám làm kiến nghị với thượng cấp: “Chúng tôi xin lấy máu mình đảm bảo không cho địch chiếm chùa Bút Tháp!”. 

Nhờ lời thề sáng tạo và quả cảm không chấp hành “tiêu thổ kháng chiến” một cách rập khuôn ấy mà ngày nay chùa Bút Tháp vẫn nguyên vẹn là ngôi chùa cổ, đẹp độc nhất vô nhị của non sông đất nước ta, lưu giữ cho cả nhân loại một công trình văn hóa kiến trúc làm say đắm lòng người.

Năm 2013 Nhà nước phong tặng “chùa Bút Tháp - di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt”. Hằng năm từ 22 đến 24 tháng 3 (âm lịch), Bút Tháp mở hội chùa (Ninh Phúc Tự) đông vui lắm, thu hút hàng vạn khách thập phương và quốc tế đến tham quan, lễ phật. 

Nhưng, ít người biết rằng, đã từng có một chiến công âm thầm nơi đây. Đó là việc mở lại bến đò Bút Tháp - Dền, đánh thông đường dây liên lạc giữa Nam - Bắc phần sông Đuống. Khi ấy hầu hết các xã và các cơ quan đầu não của Thuận Thành phải sang tạm lánh bên Tiên Du, Quế Dương và Võ Giàng, chỉ đêm đêm những con đò lầm lũi đưa đón cán bộ, qua sông về các làng xã bám đất, bám dân, tạo dựng cơ sở, chờ thời cơ giải “tề”, phá giặc.

Bến đò Bút Tháp và dòng sông Đuống đã lập một đường giao thông huyết mạch nối các tỉnh đồng bằng (Khu III) với xứ sở cách mạng Việt Bắc. Họ đã đưa đón cả các cán bộ cao cấp như các đồng chí Văn Tiến Dũng, Lê Quốc Thân, Ngô Minh Loan, Nguyễn Ly qua lại. Sau này khi làm lịch sử cấp huyện, xã, không nêu được những công trạng có giá trị đặc biệt ấy, cán bộ, đảng viên kháng chiến nhiều người băn khoăn, tiếc nuối... trong đó có đồng chí Tô Quyền, người cán bộ công an nhiều năm nằm vùng tại nơi đây. 

Ông Nguyễn Văn Hậu, công an xã, kể: “Hôm chúng tôi ra Hà Nội thăm Đại tướng Văn Tiến Dũng (1992), ông vui vẻ tiếp: “Ở đấy có đội bạch binh”, Đại tướng gọi chúng tôi là đội bạch binh, nghĩa là “lính chân trắng” không lương, không phụ cấp, chỉ tự nguyện dấn thân đi bảo vệ cán bộ, không sợ gian nan, không từ nguy hiểm. 

Đại tướng hỏi: “Đồng chí bí thư ngày ấy?”. “Thưa Đại tướng: Cụ mất năm ngoái rồi ạ”. “Ngày ấy đồng chí Bí thư và anh em đi đón chúng tôi, họ chỉ mặc áo lương, khăn xếp mà trời thì rét căm căm”.

Di ảnh đồng chí Hùng Khánh (nguyên Bí thư chi bộ xã Đình Tổ), người cùng đồng chí Tô Quyền (nguyên công an tỉnh Bắc Ninh) và ông Nguyễn Văn Hậu (nguyên công an xã Đình Tổ) đón và đưa Đại tướng Văn Tiến Dũng qua bến đò Bút Tháp - Dền (Sông Đuống) năm 1949.

Đưa đón đồng chí Văn Tiến Dũng là trách nhiệm hệ trọng. Đồng chí Hùng Khánh - Bí thư triệu cán bộ nòng cốt bàn bạc: “Tận dụng đêm tối mịt mùng, bất ngờ và táo bạo đưa một chiếc thuyền sang tận mé làng Phú Mỹ (gần bốt Á Lữ hơn), đánh lừa kẻ địch, phòng chúng sẽ bao vây bến đò Bút Tháp”. 

Và hôm ấy, ngay từ 12 giờ trưa, đồng chí Hùng Khánh, đồng chí Tô Quyền cùng tôi và mấy anh em đóng áo lương, khăn xếp, với hành lý: Vàng, hương, cau... thong dong, lảng vảng qua các cung đường từ trưa đến chiều, theo dõi địch tình các bốt Á Lữ, Đậu, đến tận tối để đưa đón ông. 

Khi tiếng súng nổ chát chúa trên đoạn đường Bút Tháp xuống bến đò thì đồng chí Văn Tiến Dũng đã qua hết cả làng Dền, Xộp của huyện Tiên Du. Chuyến công vụ ấy đã xuôi chèo, mát mái. Sau này các đồng chí Văn Tiến Dũng, Lê Quốc Thân, Ngô Minh Loan, Nguyễn Ly... đều có văn bản xác nhận công tích của cán bộ và nhân dân Bút Tháp, Đình Tổ.

Ngày ấy ta đối mặt với kẻ thù đã từng hơn tám mươi năm đô hộ nước ta, chúng giàu mạnh, lại mưu thâm, kế hiểm. Thường phục kích bến đò, tuần tra hành lang giao thông, gây cho ta không ít khó khăn, nguy hiểm. Máu xương anh em ta đã thấm đẫm đường dây, hòa cùng sông nước, có thi thể cán bộ vĩnh viễn trôi theo dòng sông Đuống quanh co này. 

Làng Dền - Cảnh Hưng - Tiên Du nằm sát bờ sông, dẫu vẫn là vùng tự do nhưng nhiều người xung phong lái đò đưa, đón Việt Minh, có người đã bỏ mình nằm lại bên cánh bãi bờ Nam. Dòng sông Đuống, bến đò Bút Tháp, bãi bờ lau sậy và những con người quên thân vì nước đã làm nên những sự tích phi thường.

Nhắc đến những năm tháng Thuận Thành mất đất, cụ Hậu thường cảm động kể: “Xã mình còn khá, chứ anh em các xã bạn khổ lắm, các gia đình tiếp tế ít ỏi hoặc không kịp, ban ngày anh em phải đi làm mướn, đi đánh giậm, mò cua bắt ốc, kiếm cái ăn. Ban đêm từ Xuân Hội (Tiên Du) đi bộ, có hôm nhỡ đò phải bơi qua sông, rồi lại đi bộ về Mãn Xá. Đông Cốc, Trà Lâm, Tư Thế... gặp cơ sở bàn bạc một lúc rồi lại đi, sáng bảnh mới tới Xuân Hội. 

Chủ nhà đãi vài củ khoai luộc để phần từ tối. Vậy mà vẫn vui. Những khi gặp anh em Trí Quả, Hà Mãn nói những chuyện để đời ấy, vẫn cười ra nước mắt. Tôi nói xã mình còn khá là vì xã mình còn đất, còn xoay xỏa được. Việc lo lương ăn dễ dàng hơn, hoặc có những hôm đồng chí Nam, Chủ tịch huyện về xã, ra bến đò, chúng tôi khéo léo xin “duyệt” cho “buôn” vài đôi tiểu từ bên Nam sang Bắc bán, kiếm ít lãi, nuôi anh em được dăm ngày.

Thế đấy. làm sao giữ vững được tinh thần để anh em không nao núng, để ngày đêm vẫn một lòng một dạ đau đáu tìm phương kế giữ đất, giành dân, tìm hiểu địch tình, hướng dẫn, vạch kế cho dân chống lại sự kìm kẹp của địch. Còn dân ta, họ vốn giàu lòng yêu nước, ghét quân xâm lược, làng quê họ đang bị xâm lăng đe dọa thì mỗi con người có một cách để thể hiện lòng mình. 

Gặp được cán bộ ta là họ có niềm tin, cách mạng đang bên cạnh họ, có người đưa đường chỉ lối, họ không sợ lẻ loi. Còn Bút Tháp và cả xã Đình Tổ, được tai mắt của quần chúng, không một tên phản động nào dám nhăm nhe xuống bốt, cầu thân. Cũng có vài kẻ cố tình “thích đi hầu thằng Tây” liền bị cách mạng trừng trị.

Những năm 1991-1992, ông Hoàng Giá - một sĩ quan quân đội nghỉ hưu về thôn Bút Tháp, nghe kể lại, vốn là một chính trị viên tiểu đoàn, chiến đấu ở miền Nam nhiều năm, lòng dạ không yên, mới xung phong ra làm bí thư chi bộ. Ông nêu ý định xin làm thêm 2 việc. Việc thứ nhất là viết thành tích làng Bút Tháp. Việc thứ hai là làm thủ tục đề nghị Nhà nước truy phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Vũ Tử Luận.

Cả hai việc chi bộ đều hoàn toàn nhất trí và thành lập một ban công tác đặc biệt... Họ chỉ “cơm nhà, việc làng” ngày đêm đi gặp gỡ những người trong cuộc, những người am hiểu, hỏi han, ghi chép, xác minh... dẫu gặp không ít khó khăn. Cuối cùng trái chín không phụ công người. Thành tích làng Bút Tháp viết xong, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến Hạng Nhì (1993). Liệt sĩ Vũ Tử Luận được Nhà nước truy phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (1998). Chi bộ, quê hương vui như mùa xuân, gia tộc và những người thân chan hòa nước mắt.

Đồng chí Đại tá, Cục trưởng Tô Quyền trong dịp về dự lễ đón Huân chương của thôn Bút Tháp.

Nói về đồng chí Tô Quyền và các “trợ lý” của ông khi đó gần như một đồn công an đặc trách bảo vệ bến đò. Đồng chí Tô Quyền người làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang (Hưng Yên), vùng quê giàu truyền thống cách mạng với nhiều vị cách mạng tiền bối như các đồng chí Tô Hiệu, Lê Văn Lương, Tô Chấn, nhà văn Nguyễn Công Hoan và đồng chí Lê Giản (tức Tô Gĩ), Giám đốc Nha Công an Trung ương. 

Những tấm gương chói ngời ấy có ảnh hưởng rất lớn với ông. Đồng chí Tô Quyền có vóc dáng tầm thước, đôi mắt tinh nhạy, tư cách chan hòa. Để thực hiện nghiệp vụ, ông thích dùng văn nghệ, giúp dân ta nhận mặt kẻ gian. “Việt gian nó cũng như ai/ Có mồm có mũi có tai có đầu/ Có khi nó có cả râu/ Nhưng mà nó thích đi hầu thằng Tây...”.

Chẳng biết của ai sáng tác, hay là chính ông. Nhưng đồng chí thường đọc để nhắc nhở ý thức tiễu trừ những kẻ “thích đi hầu thằng Tây...”. Trong quá trình hoạt động cách mạng ở đây. Đồng chí Tô Quyền luôn sát cánh cùng đảng viên và cán bộ Đình Tổ, đặc biệt là Bút Tháp, cùng nhau chia sẻ gian lao, ngọt bùi suốt từ 1948 đến đầu 1951. Chỉ một lòng gắn bó, thân thương.

Trong buổi lễ đón nhận Huân chương Kháng chiến Hạng Nhì của Bút Tháp, đồng chí Tô Quyền về rất sớm. Ông bảo: “Cho mình lên thăm gia đình bác Khánh”. Tôi lựa lời: “Hay là để sau buổi lễ”. Bỗng đồng chí Tô Quyền lặng đi, chắc là những ký ức xa xăm về Bí thư Hùng Khánh đang tái hiện trong ông. Tôi tâm tình: “Thời ấy đồng chí Bí thư Hùng Khánh là người gặp nhiều vất vả gian lao. Hết làm bí thư xã, lại lên huyện. Xã khó khăn, huyện lại điều về làm bí thư. Nhưng ở đời...”. 

Đồng chí Tô Quyền buồn buồn: “Tôi quên sao được bác Khánh, dáng nho nhã, da trắng, mắt sáng, lộ hầu, bơi sông giỏi lắm. Có lần nhỡ đò, nước sông to, bác ấy vừa bơi, vừa dìu mình qua sông đấy. Nhìn bác ấy luôn toát nên một con người chân chính. Chỉ thương... những ngày gian khổ, hiểm nguy...”.

Khi được mời phát biểu, đồng chí Tô Quyền nói những lời gan ruột: “Cảm ơn Đảng bộ Đình Tổ. Đặc biệt xin tạ ơn các cán bộ, đảng viên và nhân dân Bút Tháp đã không nề gian lao, nguy hiểm, tận tâm với cách mạng, trong đó có ngành công an. Cảm ơn những con người đã góp phần tô thắm cho tấm Huân chương Kháng chiến cao quý này. 

Tôi bùi ngùi nhớ bác Hùng Khánh - Bí thư, nhớ các đồng chí xã đội, công an và những con người trong thời khắc gian truân ấy. Nhiều đồng chí đã về nơi thiên cổ”. Ôi! Thật cảm động, ông quay lên đoàn chủ tịch xúc động chia sẻ: “Tấm Huân chương Kháng chiến Hạng Nhì là ngang với huân chương thưởng cho Đình Bảng quê hương cách mạng vào loại sớm nhất của Bắc Ninh đấy”.

Cuối buổi lễ, mọi người quây quần xung quanh vị đại tá... và thân mật gọi ông bằng cái tên “Bác Tô Quyền”, “Anh Tô Quyền”, “Chú Tô Quyền” trìu mến.

Nguyễn Hậu - Hoàng Tiến (ghi theo lời kể của các cán bộ lão thành cách mạng)