Sau khi thăm khám, các bác sĩ cho biết chị T. đã có dấu hiệu chuyển dạ, thai to, khung xương chậu nhỏ, cổ tử cung không mở và có vết mổ cũ. Với tình trạng này, các bác sĩ đánh giá sản phụ không thể sinh tự nhiên qua ngả âm đạo, chỉ định nên mổ lấy thai để đảm bảo tính mạng cho thai nhi. Nhưng, sản phụ và gia đình cương quyết từ chối mọi sự hỗ trợ của bác sĩ trong suốt cuộc sinh mà bắt sản phụ tự chịu đựng cơn đau, tự rặn…

Sau 2 giờ nhập viện, chị T. bị vỡ ối, nước ối vàng, đau bụng dữ dội, sốt cao, tim thai rất nhanh. Lúc này, bác sĩ trực đánh giá chuyển dạ khó khăn, chỉ định truyền dịch, truyền thuốc hạ sốt, nhưng chị T. và gia đình vẫn không đồng ý thực hiện bất cứ can thiệp nào. Đồng thời, gia đình đưa ra rất nhiều yêu cầu như: không được thăm khám âm đạo, không để sản phụ sinh trên bàn mà phải sinh trong tư thế đứng, không được tiêm kháng sinh, truyền hạ sốt cho sản phụ, không được tiêm vắc-xin cho con khi sinh ra, phải để nửa tiếng mới được cắt dây rốn, không cho con bú sữa bình…

Qua theo dõi phản ứng của vợ chồng chị T., các bác sĩ được biết, vợ chồng chị T. hiện đang là thành viên của một cộng đồng chọn sinh con theo phương pháp thuận tự nhiên. Nên gia đình chị đã từ chối mọi can thiệp của bác sĩ, thậm chí còn ký giấy cam kết tự chịu trách nhiệm khi có trường hợp xấu xảy ra. Chỉ đến khi dấu hiệu nguy hiểm tác động lên thai nhi đến mức báo động, lãnh đạo Khoa kiên quyết giải thích, phải mổ lấy thai là để cứu sống thai nhi thì sản phụ và gia đình mới đồng ý để bác sĩ can thiệp. Ca mổ thành công nhưng do vỡ ối lâu nên mẹ con chị T. đều phải tiêm kháng sinh, riêng em bé phải được hỗ trợ hô hấp.

Ca mổ đẻ cho mẹ con sản phụ N.T.T. rất may mắn đã thành công, cứu được cả mẹ và con.

Sau khi đã được các bác sĩ mổ thành công, “mẹ tròn con vuông”, chị T. mới bộc bạch rằng, vào tháng thứ tư của thai kỳ, chị đã đọc biết đến trào lưu “sinh con thuận tự nhiên” trên mạng xã hội. Sau đó, chị quyết tâm sinh con theo phương pháp này, không để bác sĩ can thiệp và lúc này mới thừa nhận rằng, nếu biết trước tình trạng của mình lúc tự sinh con có nhiều nguy hiểm đến vậy, chị đã nghe theo lời khuyên của bác sĩ ngay từ đầu.

BSCKI Bùi Thị Phương Loan – Khoa Phụ sản của BV là người trực tiếp điều trị cho chị T. chia sẻ: “Mỗi sản phụ là một cá thể riêng biệt, không phải trường hợp nào cũng giống nhau. Việc tìm hiểu những thông tin liên quan đến bệnh lý cũng như cuộc chuyển dạ là việc làm rất có ý nghĩa, giúp người bệnh hiểu thêm vấn đề để quá trình điều trị tốt hơn. Việc chọn sinh tự nhiên đã được ứng dụng nhiều tại các nước phát triển như Mỹ, Anh, Canada… Tuy nhiên để thực hiện phương pháp này, sản phụ và gia đình phải luôn có sẵn một  ê kíp hỗ trợ từ bác sĩ chuyên môn cho đến chuyên viên tư vấn tâm lý. Bên cạnh đó, sản phụ còn phải được chuẩn bị chu đáo các trang thiết bị tại nhà. Đến khi chuyển dạ, toàn bộ ekip sẽ có mặt để theo dõi và đảm bảo quá trình sinh con của sản phụ diễn ra an toàn và theo trình tự.

Tại Việt Nam, phương pháp sinh thuận tự nhiên đã xuất hiện khá rầm rộ tại trong những năm gần đây. Tuy nhiên, phương pháp này lại được truyền bá trên những trang mạng không chính thống, không nêu rõ những vấn đề nguy hiểm có thể xảy ra cho thai nhi và sản phụ. Điều này đã gây ra nhiều lầm tưởng cho các bà mẹ về việc “tự sinh tự diệt”, không cần đến sự can thiệp y tế nào. Như trường hợp sản phụ T trên, nếu không có sự kiên quyết thuyết phục và can thiệp kịp thời của các bác sĩ thì có lẽ tình huống xấu nhất đã xảy ra đối với cả mẹ và bé.

TS.BS Trần Nhật Thăng khuyến cáo, nên tôn trọng chỉ định y khoa, tôn trọng sự tự nhiên của chuyển dạ, chỉ can thiệp vào những lúc cần thiết thì đó mới là can thiệp an toàn. Khoa sản BV ĐHYD thành phố Hồ Chí Minh cũng luôn tôn trọng sinh thuận tự nhiên, nhưng đó là sự tự nhiên dưới sự kiểm soát đúng mức của y học hiện đại. Khi có vấn đề nên can thiệp thì phải phát hiện, can thiệp sớm, tránh để lại những hậu quả cho cả mẹ và con.

Tại các phòng sinh của khoa Phụ sản BV ĐHYD, gia đình đều được tham gia vào cuộc sinh, bác sĩ cũng luôn ở bên cạnh để can thiệp đúng lúc những trường hợp cần thiết để đạt hiệu quả cao nhất cho sản phụ và trẻ sơ sinh. Chứ các sản phụ không nên quá cực đoan theo một trường phái nào, tránh việc nhận thức chưa đầy đủ khiến mẹ và bé rơi vào tình trạng nguy cấp như trên.

Thực tế, thời gian gần đây do những nhận thức chưa đẩy đủ về “sinh thuận tự nhiên”, không ít sản phụ đã đẩy bản thân và thai nhi vào tình huống nguy hiểm. Các sản phụ cần phải hiểu rằng, nếu như không có quá trình theo dõi và hỗ trợ đúng mức của y học hiện đại thì quá trình sinh nở đều là những giai đoạn nguy hiểm cho cả mẹ lẫn con. Mục tiêu của y khoa là nhận biết trường hợp nào không thể sinh tự nhiên để can thiệp đúng phương pháp, đúng thời điểm nhằm đảm bảo sự an toàn cho cả mẹ và bé.

Huyền Nga