Dưới sự chứng kiến của Tổng thống Mỹ Donald Trump tại Nhà Trắng, Thủ tướng Israel Benjamin Netanuahu cùng Ngoại trưởng UAE Sheikh Abdullah bin Zayed al-Nahyan và Ngoại trưởng Bahrain Abdullatif Al Zayani ngày 15/9 đã kí văn kiện lịch sử có tên gọi "Hiệp ước Abraham" về bình thường hóa quan hệ.

Hiệp ước Abraham được kí tại Nhà Trắng năm 2020. Ảnh: Reuters

Đây được xem là bước đi đóng vai trò quan trọng trong thiết lập một cục diện mới ở Trung Đông, mở triển vọng cho mối quan hệ giữa Israel và các quốc gia Arab khác.

UAE và Bahrain là quốc gia thứ ba và thứ tư thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Israel. Có ý kiến cho rằng những kết quả tốt đẹp từ việc các nước Ai Cập, Jordan – hai nước đầu tiên trong thế giới Arab bình thường hóa quan hệ với Israel, đã góp phần tạo ra động lực thúc đẩy tiến trình này.

Từ khi Nhà nước Do Thái được thành lập ở Trung Đông năm 1948, Israel và các nước trong khối Arab ở Trung Đông đã trải qua nhiều cuộc xung đột đẫm máu, trong đó có ít nhất 4 cuộc chiến mang quy mô khu vực.

Nhìn chung, cả hai bên đều hứng chịu thiệt hại đáng kể về người, tài sản vì chiến tranh, song Israel luôn mở rộng kiểm soát về đất đai sau những lần xung đột.

Máy bay Israel trong các vụ không kích nhằm vào quân đội Syria năm 1967. Ảnh: ITN

Qua nhiều thập kỷ, các nước Arab luôn ngấm ngầm hoặc công khai coi Israel là đối thủ nguy hiểm nhất, khước từ công nhận Nhà nước Do Thái và kiên quyết mục tiêu thành lập nhà nước Palestine trước khi đặt vấn đề bình thường hóa quan hệ với Israel.

Tuy nhiên, thế đối đầu này có dấu hiệu lung lay vào năm 1977, chưa đầy 4 năm sau Chiến tranh Yom Kippur (giữa một phe là Israel và phe kia gồm Ai Cập, Syria nhưng nhận hậu thuẫn của các nước Arab), khi Tổng thống Ai Cập Anwar el-Sadat trở thành nhà lãnh đạo Arab đầu tiên đến Jerusalem gặp Thủ tướng Israel Menachem Begin và phát biểu trước Quốc hội Israel.

Hành động của ông Anwar el-Sadat gây ra cơn bão chỉ trích trong cả khối Arab. Năm 1978, el-Sadat gặp Begin ở Mỹ để thảo luận về một thỏa thuận cùng Tổng thống chủ nhà Jimmy Carter về khả năng bình thường hóa quan hệ và đạt được đồng thuận chung. Đồng thuận này đặt nền móng cho hiệp ước hòa bình chính thức vào năm 1979, cũng được kí tại Nhà Trắng.

Ông Begin chào đón Tổng thống Ai Cập Anwar el-Sadat ở Jerusalem. Ảnh: BNG Israel 

Các điểm chính của hiệp ước lịch sử này là việc Ai Cập và Israel chính thức công nhận lẫn nhau, chấm dứt tình trạng chiến tranh đã tồn tại từ cuộc xung đột khu vực nổ ra năm 1948 giữa Israel và các nước Arab.

Theo văn kiện, Israel rút toàn bộ lực lượng khỏi Bán đảo Sinai, khu vực của Ai Cập mà nước này chiếm được trong cuộc chiến Sáu ngày năm 1967 và bảo vệ thành công trong chiến tranh Yom Kippur. Việc được trao trả lại Bán đảo Sinai được đánh giá là yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy Ai Cập tìm kiếm thỏa thuận với Israel.

Ở chiều ngược lại, Ai Cập đồng ý cho phép tàu bè Israel đi qua kênh đào Suez miễn phí và công nhận Eo biển Tiran và Vịnh Aqaba là tuyến đường thủy quốc tế…

Năm 1981, el-Sadat bị các tay súng Hồi giáo cực đoán ám sát tại Cairo, nhưng tiến trình hòa bình được những người kế nhiệm ông tiếp tục. Năm 1982, Ai Cập chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Israel và xây dựng mối quan hệ ngày càng ổn định với quốc gia cựu thù.

Cái bắt tay lịch sử giữa ông el-Sadat, ông Begin và Jimmy Carter. Ảnh: AP

Đến ngày nay, khi nhìn nhận lại hành động của Ai Cập, giới quan sát đều thừa nhận rằng đây là một bước đi cần thiết. Cả Cairo và Tel Aviv đều hưởng lợi từ quan hệ ngoại giao khi có thể gạt bỏ bớt các mối lo an ninh từ đối phương, tăng cường giao thương, phối hợp trong cuộc chiến chống khủng bố và điều phối các mối quan hệ liên quan đến Mỹ ở khu vực.

Nhiều năm qua, thông qua các kênh đối thoại nhiều chiều, Ai Cập cũng đã chứng minh được vai trò trung gian hòa giải trong nỗ lực thiết lập hòa bình giữa Israel và Palestine, gần nhất là thỏa thuận ngừng bắn đạt được tháng 5/2019 giữa lực lượng Israel và phong trào Hamas của người Palestine kiểm soát Dải Gaza.

Năm 2014, chính những nỗ lực của Cairo cũng đã chấm dứt tiếng súng giữa Hamas và Israel, trong cuộc xung đột khiến hơn 1.500 người bỏ mạng. Ngoài ra, Ai Cập đã góp sức đáng kể trong các cuộc đối thoại giữa các phe phái của người Palestine.

Thỏa thuận thứ hai mà một quốc gia Arab đạt được với Nhà nước Do Thái là vào năm 1994, khi nhà vua Hussein bin Talal của Jordan và Thủ tướng Israel Rabin ký hiệp ước hòa bình lịch sử chấm dứt tình trạng giao tranh giữa hai quốc gia, sau cái bắt tay lịch sử ở Nhà Trắng.

Cái bắt tay lịch sử giữa nhà vua Hussein và Thủ tướng Israel Rabin dưới sự chứng kiến của Tổng thống Mỹ Clinton. Ảnh: ITN

Theo Brookings, văn kiện này được kí kết trong bối cảnh vào những năm 1990, Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) và Israel đã tiến hành nhiều cuộc đối thoại nhằm tìm kiếm hòa bình, dưới sự bảo trợ của chính quyền Mỹ và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế tại Oslo, Thụy Sĩ.

Jordan từ lâu có quan hệ tốt đẹp với Mỹ và mong muốn tìm kiếm khả năng thiết lập bang giao với Israel. Jordan cũng từng nhiều năm công khai ủng hộ các cuộc đàm phán giữa Palestine và Israel.

Mùa Thu năm 1993, vua Hussein được thông báo PLO và Israel đang có các cuộc đối thoại bí mật ở Oslo; còn Syria cũng đang tiếp xúc với Tel Aviv thông qua Mỹ. Nhận thấy mình “không đơn độc” trong nỗ lực này và có thể dựa vào các cuộc đàm phán giữa PLO và Israel để khẩn trương tìm kiếm quan hệ với Israel mà không lo sợ phản ứng dữ dội từ các nước Arab, vua Hussein đã hành động.

Tháng 4/1994, các cuộc đàm phán chính thức bắt đầu. Washington trợ giúp đắc lực cho tiến trình này và cam kết chuyển giao máy bay F-16 cho Jordan như một động lực. Tháng 7/1994, trên bãi cỏ Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố Israel và Jordan đã đạt thỏa thuận. Tháng 10 cùng năm, văn kiện được kí kết.

Giới quan sát từng coi các cuộc đàm phán giữa khối Arab và Israel vào giai đoạn này là sự khởi đầu cho hòa bình thực sự giữa Israel và các nước láng giềng. Tuy nhiên, sau khi Thủ tướng Israel Rabin đã bị ám sát bởi Yigal Amir, kẻ cho rằng Rabin muốn “trao đất nước cho người Arab”, chính quyền Tel Aviv bắt đầu theo đuổi đường lối cứng rắn hơn dưới thời Netanyahu.

Tổng thống Mỹ Clinton, Thủ tướng Israel Yitzhak Rabin và nhà lãnh đạo Palestine Yasser Arafat cùng đứng trên bãi cỏ của Nhà Trắng vào ngày 19/9/1993.

Đến ngày nay, ngoại trừ hiệp ước Jordan-Israel, các cuộc đàm phán giữa Tel Aviv và các chính quyền Arab vùng Vịnh được khởi động trong giai đoạn này về sau đều đã thất bại hoặc bị đình trệ nghiêm trọng, bao gồm các cuộc đàm phán về Hiệp định hòa bình Oslo năm 1993 giữa Israel và PLO.

Giới quan sát kì vọng những bước đi ngày nay ở Trung Đông dưới thời Tổng thống Donald Trump có thể mở ra một giai đoạn mới, với những cuộc đàm phán hiệu quả hơn giữa Israel và khối Arab.

Tại lễ ký ở Nhà Trắng hôm 15/9, Tổng thống Trump nói rằng Arab Saudi, quốc gia có ảnh hưởng bậc nhất trong khối Arab, cũng sẽ đạt thỏa thuận với Israel “vào thời điểm thích hợp”, nói thêm rằng “ít nhất 5 hoặc 6 quốc gia sẽ rất nhanh chóng” thiết lập thỏa thuận của riêng họ với Israel.

Thiện Nhân