Tuy vậy, hiện nay, tình trạng lạm dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp ngày càng phức tạp, gây ảnh hưởng tới sức khỏe người dân, mất an toàn thực phẩm.

Đứng “top” đầu về sử dụng nhiều thuốc

Theo Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (PTNT) Việt Nam, Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng thuốc BVTV nhiều và khó kiểm soát. Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng ở Việt Nam hiện hành có 217 hoạt chất với 664 tên thương phẩm đăng ký phòng trừ cỏ dại trên các loại cây trồng và đất trồng trọt. Thuốc diệt cỏ dùng trên mọi đối tượng cây trồng, trong đó thuốc trừ cỏ dùng trên lúa là nhiều nhất.

Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho thấy, trung bình khoảng 5 năm trở lại đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng 500-700 triệu USD để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc trừ sâu từ Trung Quốc. Trong số này, chiếm 48% là thuốc trừ cỏ (19.000 tấn), còn thuốc trừ sâu và trừ bệnh chiếm khoảng 32% (16.400 tấn), ngoài ra còn một lượng thuốc điều hòa sinh trưởng khoảng 900 tấn.

Ông Hồ Xuân Hùng, Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và PTNT Việt Nam nhận định, thuốc trừ cỏ hiện nay vẫn chiếm vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, giúp cải thiện sức lao động cho người nông dân. Tuy nhiên, ngày càng xuất hiện tình trạng lạm dụng thuốc trừ cỏ đem đến nhiều hệ lụy tác hại cho sản xuất, môi trường, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp. Vì vậy, tăng cường việc quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc trừ cỏ là một yêu cầu đặc biệt cấp bách hiện nay trên thế giới và ở nước ta.

PGS.TS Nguyễn Xuân Hồng, nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (BVTV - Bộ NN&PTNT) nhận định, thuốc trừ cỏ có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Nếu không có tác động của các biện pháp BVTV, sâu bệnh hại và cỏ dại có thể làm giảm năng suất cây trồng 70-75%, trong đó riêng cỏ dại làm giảm năng suất 40-45%.

Trong số các loại thuốc BVTV, thuốc trừ cỏ hóa học được sử dụng với khối lượng nhiều và phổ biến nhất do chi phí thấp, hiệu lực sinh học cao. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ không sử dụng thuốc trừ cỏ hóa học phải chi phí gấp 20 lần cho phòng trừ cỏ dại so với sản xuất thông thường.

Theo ông Hồng, mặc dù pháp luật về quản lý thuốc trừ cỏ đã khá đầy đủ, đồng bộ, hài hòa với các nước trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh đó, công nghệ để phân tích, kiểm định chất lượng về thuốc BVTV cũng từng bước được nâng cao. Tuy nhiên, sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, manh mún, hiểu biết của người sử dụng thuốc còn hạn chế, người nông dân hiện vẫn đang sử dụng thuốc dựa vào thói quen.

Trong khi đó, số lượng cửa hàng và người buôn bán thuốc còn quá nhiều, điều kiện kinh doanh còn lỏng lẻo, lực lượng thanh tra mỏng. Vai trò của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc buôn bán, sử dụng thuốc trên địa bàn quản lý chưa được quan tâm và phát huy đúng mức.

Còn tồn tại quá nhiều các cửa hàng kinh doanh thuốc BVTV nên rất khó kiểm soát.

Cần có lộ trình giảm thuốc BVTV trong tương lai gần

Đại diện Tổ chức CropLife Việt Nam (Tổ chức quốc tế thúc đẩy các hoạt động của ngành khoa học cây trồng) cũng cho rằng, để một sản phẩm thuốc BVTV hoàn toàn mới, trong đó có thuốc trừ cỏ được giới thiệu ra thị trường, các đơn vị phát triển phải mất 11 năm nghiên cứu và 283 triệu USD để thực hiện nghiên cứu và đáp ứng các quy trình về thử nghiệm, đánh giá an toàn theo chuẩn quốc tế nghiêm ngặt nhất.

Lạm dụng thuốc trừ cỏ, sử dụng thuốc quá liều lượng khuyến cáo, sử dụng sai mục đích, đặc biệt là trình độ nhận thức, hiểu biết và trách nhiệm xã hội của người sử dụng thuốc trừ cỏ tại Việt Nam còn hạn chế là những nguyên nhân chính gây ra một số ảnh hưởng không mong muốn tới sức khoẻ cộng đồng và môi trường trong thời gian gần đây.

Thạc sỹ Nguyễn Văn Hưng, Chuyên viên cao cấp Vụ Nông nghiệp Văn phòng Chính phủ kiến nghị, cần sớm xây dựng chiến lược sử dụng thuôc BVTV ở  Việt Nam trong 10-15 năm tới nhằm giảm nguy cơ, giảm thiểu sử dụng thuốc BVTV. Trên cơ sở Luật BVTV và kinh doanh thực vật sẽ dược ban hành cần có  Nghị định và Thông tư mới riêng về quản lý, sử dụng thuốc BVTV trong đó cần có quy định cụ thể về xây dựng, ban hành và sử dụng danh mục thuốc BTVT.

Mục tiêu, hạn chế số lượng hoạt chất trong danh mục, rất hạn chế các loại hoạt chất hỗn hợp, hạn chế số tên sản phẩm cho một hoạt chất; hạn chế đăng ký sản phẩm cũng như nhập khẩu thuốc BVTV, hạn chế đăng ký sản phẩm thuốc nhóm độc I, II có thời gian cách ly dài, có độc tính cao với ký sinh thiên địch và cá; tăng tỷ lệ thuốc sinh học lên 30-40% trong 5-7 năm tới.

Thuốc nhập khẩu phải có phiếu xác nhận xuất xứ, phù hợp với hồ sơ đăng ký; tăng thuế nhập khẩu với các loại thuốc thuộc diện không khuyến khích sử dụng, miễn thuế đối với loại thuốc khuyến khích sử dụng, thân thiện môi trường, ít độc hại; định kỳ 3 năm/lần cần rà soát lại sản phẩm, loại bỏ các loại thuốc không hoặc chưa sử dụng trên thị trường, thuốc đã bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế.

Có lộ trình giảm lượng thuốc BVTV sử dụng từ nay đến 2020, giảm 30-40% mỗi năm, đặc biệt trên lúa, rau, chè, quả, vùng nông sản xuất khẩu; giảm số lượng hoạt chất trong danh mục 30-40%, số sản phẩm thương mại cho một hoạt chất; nâng tỷ lệ thuốc sinh học, thuốc thân thiện với môi trường lên 40-60% từ nay đến năm 2020.

Cùng chung quan điểm này, đại diện  CropLife Việt Nam cũng cho rằng, song song với việc thắt chặt phương thức quản lý để chọn lọc các sản phẩm thuốc trừ cỏ an toàn và phù hợp điều kiện canh tác của Việt Nam, việc tiếp tục tiến hành các hoạt động hướng dẫn, đào tạo nông dân sử dụng các sản phẩm thuốc một cách có trách nhiệm, an toàn và hiệu quả, thay đổi tập quán canh tác cũ là giải pháp bền vững và triệt để nhất.

Ngọc Yến