Theo thống kê, Việt Nam vẫn còn nhập 80% hàng hóa nguyên, vật liệu thô. Theo ước tính của Jetro, thì tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam ước khoảng 32,1% (năm 2015) đối với các sản phẩm chế biến cho các công ty Nhật Bản tại Việt Nam. Trong các sản phẩm công nghiệp, thì chỉ có lĩnh vực môtô xe máy thì tỷ lệ nội địa hóa cao (95%), còn các lĩnh vực khác nhau như: điện tử, ôtô, sản phẩm công nghệ cao thì tỷ lệ nội địa hóa đều dưới 20%.

TS Nguyễn Thị Tuệ Anh, Phó Viện trưởng CIEM cho biết, hiện nay, Việt Nam có rất nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa về mặt thể chế, tín dụng, công nghệ, nhân lực… Tuy nhiên, hiệu quả thực thi các chính sách này còn chưa cao.

Ngoài ra, các chính sách khuyến khích công nghệ hỗ trợ theo Nghị định 111/ 2015/NĐ-CP về phát triển CNHT cũng chưa thực sự tạo cú hích cho CNHT phát triển bởi các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, nhân lực quy định trong Nghị định này chưa thực sự mới mà đã quy định ở đâu đó trong các văn bản pháp quy khác.

Việt Nam vẫn còn nhập 80% hàng hóa nguyên, vật liệu thô. Ảnh minh họa.

GS. Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) cho rằng, thời gian qua để thực hiện CNHT các ngành như dệt may, cơ khí, ôtô hay điện tử, chúng ta đưa ra rất nhiều Nghị định, Nghị quyết, Thông tư, chính sách ưu đãi vốn, đất, thuế thu nhập DN.... và sắp tới Quốc hội sẽ thông qua Luật Hỗ trợ các DN nhỏ và vừa.

Ở khía cạnh thực thi, từ bộ đến địa phương, thành lập rất nhiều trung tâm hỗ trợ. Tuy nhiên, GS. Nguyễn Mại cũng đưa 2 vấn đề: Việt Nam đã và đang thành lập quá nhiều trung tâm CNHT chung ở địa phương.

Ngoài 2 trung tâm mà các chuyên gia Nhật Bản nêu ra thuộc trách nhiệm của Sở Khoa học và Đầu tư (KH&ĐT) và Sở Công Thương các địa phương thì chúng ta còn có các trung tâm, dự án hỗ trợ của Sở Khoa học và Công nghệ, các hợp tác xã... Những trung tâm đó được lập ra với những nhiệm vụ quan trọng nhưng về cơ sở và con người thì chưa đáp ứng được nên đó là sự lãng phí.

Chia sẻ kinh nghiệm, nhiều chuyên gia của MRI- Nhật Bản cũng cho rằng, Nhật Bản đề xuất áp dụng thử nghiệm mô hình Trung tâm công nghệ công lập ở Việt Nam. Mô hình này ở Nhật Bản đã có từ lâu đời, từ những năm 1920 và phát triển tương đối thành công ở Nhật bản. Mô hình này là nơi các DN nhỏ và vừa sử dụng các dịch vụ ( thông qua các máy móc) của Trung tâm để nghiên cứu, thử nghiệm các sản phẩm mà doanh nghiệp không có khả năng đầu tư máy móc để thử nghiệm. Mô hình của Nhật Bản là Trung tâm công nghệ công lập trực thuộc chính quyền tỉnh và ngân sách hoạt động của Trung tâm công nghệ công lập chủ yếu từ ngân sách của tỉnh, có thu 1 phần từ lệ phí của DN.

Tuy nhiên, Viện phó CIEM cho rằng: Hiện nay, đã có nhiều trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp nên chăng chúng ta chỉ cần lựa chọn nâng cấp các Trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp này (bằng việc đầu tư ban đầu các thiết bị máy móc). Và cái khó nhất hiện nay là làm sao duy trì Trung tâm hoạt động có hiệu quả? Theo bà Tuệ Anh, điểm yếu của DN vừa và nhỏ Việt Nam hiện nay là quy mô và công nghệ. Chúng ta nên loại bỏ bớt các trung tâm trợ giúp để gom vào lập ra một trung tâm hỗ trợ có tính liên kết ở nhiều địa phương với nhau theo hình thức xã hội hóa, trợ giúp và có thu phí, không sử dụng nguồn ngân sách và có sự tham gia của nhiều bên.

“Hỗ trợ trong chính sách của chúng ta chưa đáp ứng được nhu cầu của DN. Trong khi, công nghệ của chúng ta đi sau các nước, thậm chí không phù hợp với trình độ các liên doanh do thiếu máy móc, nhân lực”, bà Tuệ Anh nói.

GS Nguyễn Mại đề xuất, CIEM cần kiến nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư có những chính sách cụ thể cho DN phát triển CNHT để trình Chính phủ. “ Đặc biệt, chúng ta không nên có khái niệm khác  nhau giữa Việt Nam và Nhật Bản về CNHT và chúng ta cần xây dựng công nghệ hỗ trợ cho từng ngành”, GS. Nguyễn Mại nhấn mạnh. 

Cũng có nhiều ý kiến khác cho rằng, nên đặt vị trí Trung tâm công nghệ công lập ở những cụm DN theo ngành để tận dụng lợi thế và ở địa phương có khả năng ngân sách để hỗ trợ hoạt động cho Trung tâm công nghệ công lập.

Lưu Hiệp