Dự án do Tổng công ty Xây dựng số 1 – CTCP làm chủ đầu tư. Tổng mức đầu tư giai đoạn 1 – 2 – 3 được điều chỉnh lần cuối là 2.202 tỷ đồng. Tổng mức đầu tư gồm cả giai đoạn 4 là 3.141 tỷ đồng. Trong đó Kiểm toán cũng chỉ ra chi phí đầu tư chênh lệch chưa bao gồm VAT, dự án này đã chênh tới hơn 75 tỷ đồng.

Về việc chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ trong quản lý dự án đầu tư xây dựng, theo Kiểm toán Nhà nước, do việc lựa chọn phương án theo đề xuất của Tổng TEDI có khối lượng giải phóng mặt bằng (GPMB) lớn, dẫn đến trong quá trình thi công phải điều chỉnh thiết kế, phương án tổ chức thi công tại nút giao Vũng Tàu làm tăng chi phí xây dựng, tiến độ thực hiện dự án bị kéo dài.

Cụ thể, dự án đã qua 4 lần điều chỉnh bổ sung hạng mục ngoài hợp đồng làm tăng giá trị đầu tư so với phê duyệt ban đầu tới 56,65% (tăng từ 2.005 tỷ đồng lên 3.141,6 tỷ đồng, tức tăng hơn 1.100 tỷ đồng).

Trạm BOT thu hoàn vốn cho Dự án xây dựng cầu Đồng Nai.

Đến thời điểm kiểm toán, các hạng mục thuộc giai đoạn 4 cơ bản đã hoàn thành nhưng UBND tỉnh Đồng Nai chậm triển khai hạng mục đường dẫn từ cầu Bửu Hoà đi quốc lộ 1K làm giảm hiệu quả sử dụng và không đảm bảo mục tiêu của dự án. 

Điều này cũng dẫn tới hiện trạng, có phương tiện giao thông sử dụng hạng mục đầu tư của dự án nhưng không đi qua trạm nên không phải trả phí và ngược lại, đây là hình thức thu phí hở, chưa đảm bảo công bằng đối với các phương tiện giao thông sử dụng dịch vụ của dự án.

Chưa dừng lại, việc lập, thẩm tra, thẩm định các hạng mục thuộc giai đoạn 4 chưa chính xác trong tính toán khối lượng thiết kế, áp dụng định mức, đơn giá dự toán; một số hạng mục phát sinh chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định  làm tăng giá trị dự toán không hợp lý 1.960 triệu đồng do sai khối lượng dự toán hạng mục cầu An Hảo; khối lượng phát sinh ngoài hợp đồng chưa được thẩm định phê duyệt chính thức với giá trị dự toán lập 17.994 triệu đồng…

Về tiến độ thực hiện dự án, thời gian dự kiến ban đầu là 24 tháng (hoàn thành tháng 6-2010), tuy nhiên do không giải phóng được mặt bằng và liên tục điều chỉnh, bổ sung hạng mục, đến tận tháng 3-2015 (chậm tiến độ gần 5 năm), dự án mới hoàn thành các hạng mục chính và đưa vào khai thác, thu phí hoàn vốn.

Kiểm toán Nhà nước cũng phát hiện một số hạng mục công trình nghiệm thu khối lượng còn sai sót, áp dụng định mức, đơn giá một số công việc chưa phù hợp; phát sinh chi phí quản lý dự án nhưng chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt với kết quả giảm trừ gần 29 tỷ đồng.

 Về công tác lựa chọn nhà đầu tư, ký kết và thực hiện hợp đồng, Kiểm toán Nhà nước nêu rõ nhà đầu tư không thực hiện nghĩa vụ bảo đảm thực hiện hợp đồng đối với một số hạng mục đầu tư. 

Kiểm toán Nhà nước cho biết Bộ Giao thông Vận tải chưa kiểm tra số liệu thu chi định kỳ hàng năm, trong khi đó chủ đầu tư tính toán phương án tài chính, một số chỉ tiêu tài chính chưa chặt chẽ và sát thực tế.

Cụ thể, phương án tài chính chỉ tính đến vốn chủ sở hữu và vốn vay huy động từ các tổ chức tài chính hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, không tính đến nguồn thu tại Trạm thu phí Sông Phan trong thời gian xây dựng Dự án, số tiền 176,89 tỷ (sau khi trừ các chi phí quản lý thu, chi phí duy tu và lợi nhuận bảo toàn vốn theo thoả thuận tại Hợp đồng BOT), dẫn đến làm tăng chi phí vốn đầu tư, tăng tỷ suất chiết khấu của dự án, là một trong các thông số tài chính làm tang thời gian hoàn vốn của dự án.

Điều này cũng dẫn đến việc tính toán thời gian hoàn vốn là 18 năm 4 tháng 10 ngày là chưa phù hợp. Từ các kết quả trên, Kiểm toán Nhà nước kiến nghị xử lý tài chính các hạng mục đầu tư giai đoạn 1-2- 3 (Phụ lục hợp đồng BOT số 18) số tiền 131 tỷ đồng. Kiểm toán Nhà nước cũng kiến nghị xử lý tài chính các hạng mục đầu tư giai đoạn 4 (chưa ký hợp đồng BOT) là 25,7 tỷ đồng.

Trong đó, Ban Quản lý dự án cầu Đồng Nai mới và tuyến hai đầu cầu giảm giá trị thanh toán 5,8 tỷ đồng; giảm thuế VAT được hoàn 436 triệu đồng; chưa đủ điều kiện thanh toán 19,8 tỷ đồng. 

Đồng thời, Kiểm toán cũng yêu cầu Nhà đầu tư –Tổng công ty Xây dựng số 1-CTCP phối hợp với Bộ GTVT cập nhật, điều chỉnh thời gian thu phí sử dụng dịch vụ cho phù hợp với thực tế và các vấn đề được đề cập tại báo cáo kiểm toán…

Phạm Huyền