Trả lời: Điều 14 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em. Nếu quá thời hạn chưa đăng ký khai sinh thì theo quy định tại Điều 43 Nghị định 158/2005/NĐ-CP phải đăng ký theo thủ tục đăng ký quá hạn.

UBND cấp xã nơi có thẩm quyền đăng ký khai sinh theo quy định tại Điều 13 Nghị định 158/2005/NĐ- CP thực hiện việc đăng ký khai sinh quá hạn. Cụ thể: UBND cấp xã nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đang ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ thì UBND cấp xã nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ và người cha thì UBND cấp xã nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh.

Người đi đăng ký khai sinh quá hạn phải nộp các giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 158/NĐ- CP (được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 06/2012/NĐ- CP): Tờ khai, Giấy chứng sinh (theo mẫu), xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em  (nếu cha, mẹ trẻ em có đăng ký kết hôn). Giấy chứng sinh do cơ sở y tế nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

Trường hợp cán bộ tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh. Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh.

Căn cứ khoản 1 Điều 27 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính bổ trợ hành chính tư pháp thì việc khai sinh quá hạn sẽ bị xử phạt cảnh cáo.

Ban PL- BĐ