Điểm đáng lưu ý nhất trong quy chế mới là sẽ “siết” chặt các điều kiện đảm bảo chất lượng đầu vào và đầu ra đối với đào tạo tiến sĩ, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ theo hướng nâng cao chất lượng và từng bước tiệm cận với quốc tế.

Nâng chuẩn đầu vào về ngoại ngữ

Theo quy chế đào tạo tiến sĩ mới, ngoại ngữ được xác định là công cụ hỗ trợ không thể thiếu cho nghiên cứu sinh trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học. 

Vì vậy, ứng viên dự tuyển phải có trình độ ngoại ngữ đầu vào, đặc biệt là tiếng Anh đạt chuẩn ở mức độ nhất định để đảm bảo có thể nghiên cứu, tham khảo tài liệu của nước ngoài trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn thiện luận án. 

Cụ thể, các ứng viên phải đảm bảo có chứng chỉ tiếng Anh TOEFL iBT từ 45 trở lên hoặc Chứng chỉ IELTS (Academic Test) từ 5.0 trở lên hoặc Chứng chỉ TOEIC từ 500 điểm trở lên do một tổ chức khảo thí được quốc tế và Việt Nam công nhận cấp trong thời hạn 2 năm kể từ ngày cấp đến ngày đăng ký dự tuyển. 

Quy định mới mới cũng không sử dụng các chứng chỉ ngoại ngữ theo chuẩn châu Âu hiện được 10 trường ĐH thi và cấp chứng chỉ như trước đây mà chỉ sử dụng các chứng chỉ quốc tế tương đương. 

Đối với những người dự tuyển có các chứng chỉ ngôn ngữ khác đủ điều  kiện, quy chế mới vẫn yêu cầu người dự tuyển phải phải có khả năng giao tiếp được bằng tiếng Anh trong chuyên môn như có thể diễn đạt những vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên môn cho người khác hiểu bằng tiếng Anh và hiểu được người khác trình bày những vấn đề chuyên môn bằng tiếng Anh.    

Bên cạnh yêu cầu nâng chuẩn đầu vào về ngoại ngữ, quy chế mới còn nâng một số chuẩn đầu vào khác như muốn học tiến sĩ, các ứng viên phải có bằng thạc sĩ hoặc tốt nghiệp đại học loại giỏi. Trong khi đó, theo quy định cũ, những người tốt nghiệp đại học loại khá cũng có thể ứng tuyển tiến sĩ. 
Thời gian đào tạo tiến sĩ sẽ được rút ngắn hơn so với quy chế hiện hành.

Ngoài ra, các ứng viên phải là tác giả hoặc đồng tối thiểu 1 bài báo liên quan đến lĩnh vực hoặc đề tài nghiên cứu dự kiến đăng trên các tạp chí thuộc danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành hoặc 1 báo cáo đăng tại kỷ yếu của các hội nghị, hội thảo khoa học trong hoặc ngoài nước. Các bài báo hoặc báo cáo này được đăng tải trong thời hạn 3 năm tính đến ngày đăng ký dự tuyển.

Phải có 2 bài báo quốc tế mới được bảo vệ

Cũng theo quy chế đào tạo tiến sĩ mới, thời gian đào tạo tiến sĩ vẫn là 3 -4 năm tùy từng đối tượng có bằng thạc sĩ hoặc tốt nghiệp đại học theo quy định tại Luật Giáo dục đại học. 

Tuy nhiên, thí sinh chỉ được phép gia hạn tối đa là 2 năm. Như vậy, tổng thời gian đào tạo tiến sĩ là theo quy định mới từ 5 -6 năm kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh. 

Trong khi đó, theo quy định hiện hành, tổng thời gian hoàn thành chương trình của nghiên cứu sinh có thể kéo dài tới 7-8 năm. 

Bên cạnh đó, quy định mới cũng nêu rõ, trong thời gian gia hạn 2 năm, nghiên cứu phải theo học tập trung liên tục tại cơ sở đào tạo. Hết thời gian gia hạn, nếu luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án cấp trường, viện thông qua thì thủ trưởng cơ sở đào tạo quyết định cho nghiên cứu sinh thôi học. Kết quả học tập của chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ không được bảo lưu.

Đặc biệt, điều kiện bảo vệ luận án của nghiên cứu sinh cũng được thắt chặt hơn so với trước. 

Cụ thể, quy định mới yêu cầu nghiên cứu sinh phải công bố nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án trong tối thiểu 2 bài báo, trong đó có ít nhất 1 bài đăng trong tạp chí khoa học thuộc danh mục các tạp chí ISI/ Scopus hoặc 2 báo cáo đăng trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện (Peer Review) hoặc 2 bài báo đăng trên tạp chí khoa học nước ngoài có phản biện khác. 

Quy định mới cũng yêu cầu toàn văn luận án và tóm tắt luận án hoàn chỉnh có chữ ký của nghiên cứu sinh, chữ ký của người hướng dẫn và của thủ trưởng cơ sở đào tạo sau khi đã sửa chữa, bổ sung, phải được đăng trên trang thông tin điện tử của cơ sở đào tạo và nộp Thư viện Quốc gia Việt Nam.

Ngoài ra, các tiêu chuẩn, điều kiện đối với người hướng dẫn nghiên cứu sinh cũng được nâng cao so với quy định hiện hành. Theo đó, người hướng dẫn chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư hoặc có bằng tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, chuyên môn phù hợp với đề tài luận án hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh. 

Đồng thời, minh chứng về nghiên cứu khoa học của người hướng dẫn còn phải thể hiện ở việc họ là tác giả chính của các bài báo hoặc công trình công bố trong các tạp chí thuộc danh mục các tạp chí ISI -Scopus hoặc một chương sách tham khảo có mã số ISBN của các nhà xuất bản nước ngoài phát hành hoặc trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện.

Huyền Thanh