Đó là ông Hoàng Nghi và bà Hoàng Thị Hoa, là hai trong số hàng trăm hàng ngàn nhân chứng sống về tình yêu, sự gắn kết sắt son đôi bờ Nam Bắc, về khát vọng hòa bình thống nhất non sông thuở đất nước bị chia cắt đau thương hai miền. 

Trong ngôi nhà nhỏ nép mình bên dòng Bến Hải, ông Nghi giọng trầm ấm kể: “Năm 1972, mụ nó đưa người thân ra Bắc để dưỡng thương. Đáng lẽ mụ nó qua sông ở bến đò B Cửa Tùng, nhưng do lạ nước lạ cái nên mụ nó vô tình lạc vào làng Hiền Lương. Lúc đó, tui là dân quân du kích, đang làm nhiệm vụ ở đây, nên gặp người đi lạc thì giúp đỡ…”.

Ông Nghi và bà Hoa hạnh phúc bên con cháu trong ngôi nhà nhỏ bên dòng Bến Hải.

Sau khi bà Hoa rời Hiền Lương về Cửa Tùng, ông Nghi bắt đầu có cảm giác nhớ nhung xa xôi. Nhiều đêm, ông vắt tay lên trán nghĩ, tìm một cái cớ cụ thể cho nỗi nhớ ấy, nhưng rồi ông không lý giải được! Thế là ông tìm về thăm bà, lúc gặp giả vờ đi công tác tình cờ ghé qua.

Bà Hoa ở Cửa Tùng một thời gian ngắn thì quay trở lại bờ Nam để tiếp tục công tác cho cách mạng. Ngồi cạnh chồng, bà cười bảo: “Thời buổi bom đạn, sống chết trong tích tắc nên hôm tui trở lại quê nhà tiếp tục công tác, tui không nói lời thề hẹn chi với ông nó cả, nhưng trong thâm tâm tui cứ nghĩ đây chính là tri kỉ của đời mình rồi!”.

Đôi bờ Nam- Bắc bị chia cắt hết năm này đến năm khác; nỗi nhớ của người bên ni với người bên nớ ngày một đầy hơn. Lúc nhận nhiệm vụ vượt sông sang bờ Nam nắm tình hình, ông Nghi đã lần tìm địa chỉ của bà Hoa, cũng là dịp để thăm người yêu cho đỡ nhớ.

Ông bồi hồi nhớ lại: “Ngày đó, chỉ biết quê mụ nó ở Tam Hữu, xã Triệu Trung, chứ không biết cụ thể Triệu Trung ở chỗ nào. Cứ vừa đi, vừa hỏi dò. Lần đầu tìm đến không gặp được, tui lại phải trở ra. Sau đó nhờ mấy chú bộ đội hỏi dò tin tức, mới biết mụ nó ở trong đó cũng ra chiến trường, gùi tăng, cõng gạo vất vả lắm. Rồi tui quyết tâm trở lại lần thứ 2, đúng lúc gặp mụ nó đi làm nhiệm vụ trên đường trở về...”.

Hôm đó, ông Nghi đã kịp trao cho bà Hoa tấm áo làm niềm tin. Rồi thư đi, thư về, cái thì nhận được, cái thì mất do hoàn cảnh chiến tranh. Sau nhiều lần thư đi, tin lại, năm 1974, đám cưới của đôi uyên ương chồng Bắc vợ Nam được tổ chức thật ấm cúng trong tiếng vỗ tay, chúc phúc của hàng trăm người đi qua cầu Hiền Lương…

Nhớ lại ngày đó, bà Hoa không nén được giọt nước mắt xúc động: “Năm 1974, khi cây cầu Hiền Lương trước đó bị đánh sập đã được sửa chữa, hai vợ chồng quyết định làm đám cưới. Tui theo ông nó về quê Hiền Lương, lúc đi qua cây cầu, bà con gặp đều bắt tay chúc mừng, hai vợ chồng vui đến trào nước mắt. Vậy là sau bao nhiêu xa cách, cuối cùng người dân đôi bờ vĩ tuyến đã có thể qua lại”.

Nghe vợ kể kỷ niệm ngày xưa, ông Nghi xen vào câu chuyện, như trẻ ra vài tuổi: “Cái thời khắc nắm tay mụ nó qua cầu Hiền Lương, đi dưới chân cột cờ tung bay tui có cảm xúc lạ lắm. Cô dâu, chú rể thời ấy chỉ là chiếc áo nâu bạc màu mưa nắng, nhưng trong lòng xốn xang hạnh phúc. Tui thầm nghĩ, dù gian khó cũng sẽ nắm chặt tay mụ nó đi đến trọn đời”…

Năm 1975, đất nước thống nhất, giang sơn qui về một mối, ông bà hạnh phúc đón đứa con trai đầu lòng chào đời. Ông đặt tên con là Hữu, tên quê bà. Họ có với nhau tất thảy 4 mặt con. Ông chọn mảnh đất sát mép sông Bến Hải để dựng nhà.

Ông bảo bà: “Chính nơi này mình từng gặp nhau rồi nên duyên chồng vợ. Bởi vậy ông muốn cùng bà sống trọn đời nơi buổi đầu gặp gỡ. Cũng là để nhắc nhở cháu con về cuộc sống gia đình, dẫu có bộn bề sóng gió, khó khăn thì tình cảm dành cho nhau vẫn không thể dứt rời!”.

Thanh Bình