Theo báo cáo của Bộ Công thương, trước khi rà soát trên địa bàn cả nước có 287 công trình thủy điện với tổng công suất lắp máy 14.818,6 MW đang vận hành phát điện; 200 dự án (6.023,56 MW) đang thi công xây dựng, dự kiến từ nay đến năm 2017 sẽ vận hành phát điện; 249 dự án (2.989,20 MW) đang nghiên cứu đầu tư; còn lại 77 dự án (796,18 MW) chưa nghiên cứu đầu tư, chưa có nhà đầu tư đăng ký, chủ yếu có quy mô nhỏ, đang được rà soát về hiệu quả kinh tế và các điều kiện khác có liên quan.

Qua rà soát, đánh giá tác động hiệu quả các công trình thủy điện đã loại bỏ thêm 15 dự án, đưa tổng dự án bị loại bỏ là 439 dự án; xem xét thu hồi chủ trương đầu tư 47 dự án quá hạn mà chủ đầu tư không triển khai; gia hạn có thời hạn đối với 13 dự án; không đưa vào quy hoạch 178 vị trí tiềm năng (thêm 6 vị trí so với năm 2013).

Bên cạnh lợi ích kinh tế, thủy điện khiến cuộc sống của người dân vùng tái định cư khó khăn.

Đoàn giám sát nhận định: Sau rất nhiều năm, nhiều công trình thủy điện đã đi vào hoạt động nhưng đời sống và hoạt động sản xuất của người dân sau khi hết thời hạn hỗ trợ vẫn còn gặp nhiều khó khăn, tình trạng nghèo đói đang có nguy cơ gia tăng.

Tỷ lệ hộ nghèo trung bình ở các khu điểm tái định cư dự án thủy điện vẫn còn cao và cao hơn tỷ lệ hộ nghèo bình quân ở các địa phương như các hộ dân tái định cư thuộc thủy điện Bản Vẽ (Nghệ An) hơn 74% hộ nghèo, Plei Krong (Kon Tum) 65,13%, Khe Bố (Nghệ An) 60%, An Khê - Ka Năk (Gia Lai) 56%, Đăk Rinh (Quảng Ngãi) 49%, Huội Quảng (Lai Châu) 39,09%, Hòa Bình 36%...

Nguyên nhân của đói nghèo chủ yếu do thiếu đất canh tác, đất xấu, thiếu khả năng đầu tư thâm canh. Một bộ phận người dân tái định cư từng gắn bó với rừng và khai thác sản phẩm từ rừng là sinh kế cơ bản, nhưng rừng ít nên giảm nguồn thu, đời sống vẫn khó khăn.

Có bản với hơn 30 hộ dân, trên 100 nhân khẩu thuộc diện tái định cư tập trung nhưng ở lại nơi ở cũ, nay không thuộc diện quản lý của chính quyền địa phương nơi ở và nơi đi, không được đầu tư phát triển kinh tế - xã hội nên rất khó khăn về sản xuất và đời sống (thuộc thủy điện Bản Vẽ, Tương Dương, Nghệ An).

Việc thiếu đất sản xuất xuất phát từ hạn chế trong quy hoạch, khảo sát, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc biệt là quỹ đất, nguồn nước; thậm chí dù đã được điều chỉnh nhiều lần nhưng khi đưa dân đến tái định cư vẫn thiếu những điều kiện tối thiểu là đất và nước.

Thậm chí ở 9 điểm tái định cư của thủy điện Sông Tranh 2 (Quảng Nam), 2 điểm của thủy điện Sơn La bố trí dân về nơi không có điều kiện sản xuất.

Chưa kể đến việc thu hồi đất, giao đất sản xuất của một số dự án còn chậm, đất xấu, một số nơi chưa giao đủ đất theo quy định như dự án thủy điện Lào Cai còn 141/230 hộ; thủy điện Sông Tranh 2 còn 130 hộ chưa có đất sản xuất (mặc dù người dân đã nhận tiền bồi thường đất sản xuất bị thu hồi bằng tiền); dự án thủy điện Đồng Nai 3 (Đắk Nông) còn thiếu 300ha đất sản xuất để giao cho người dân.

Mường Lay là điểm tái định cư tiêu biểu về thiếu đất sản xuất, người dân rất khó khăn trong tìm kế sinh nhai.

Theo đánh giá của đoàn giám sát, công tác đào tạo nghề và chuyển đổi nghề nghiệp cho người dân tái định cư chưa hiệu quả. Hầu như người dân không thể tìm được việc làm sau đào tạo, lại quay lại bám cả vào số đất đai ít ỏi còn lại, dẫn đến nghèo đói.

Qua kiểm tra thực tế cũng cho thấy, có một số dự án thủy điện như Đồng Nai 3, An Khê - Ka Năk, Hủa Na đang vướng mắc trong việc giải quyết diện tích đất sản xuất còn thiếu, bồi thường đất, nước sinh hoạt cho người dân tái định cư nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết…

Việc áp dụng chính sách mới theo Quyết định 64/2014/QĐ-TTg có nhiều điểm mới đáp ứng tốt hơn yêu cầu của người dân, nhưng lại chỉ áp dụng với một số dự án nên chưa bảo đảm sự công bằng trong việc thực hiện chính sách đối với người dân.

Trước tình thế này, đoàn giám sát đã kiến nghị khi triển khai xây dựng các công trình thủy điện phải bảo đảm việc bồi thường đủ đất ở, đất sản xuất, nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt cho người dân; nghiên cứu có chính sách phù hợp trong việc đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, bảo đảm sau khi học nghề người dân có việc làm để ổn định sản xuất, đời sống. Bên cạnh đó, đoàn giám sát cũng kiến nghị tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung các cơ chế chính sách liên quan để đảm bảo công bằng, tránh phát sinh khiếu kiện.

Các khu, điểm tái định cư phải được tiến hành trước một bước để người dân đến nơi ở mới sớm ổn định cuộc sống. Đề nghị tiếp tục xem xét, nghiên cứu ban hành cơ chế quy định sử dụng một phần nguồn thu thuế từ các dự án thủy điện để đầu tư ngược lại cho vùng tái định cư.

Các cơ chế, chính sách tín dụng riêng cho các hộ tái định cư để chuyển đổi ngành nghề, xuất khẩu lao động, mở rộng sản xuất… cũng được kiến nghị xem xét, cùng với việc giao thêm cho người dân trồng bù rừng để tạo việc làm.

Vũ Hân