Bài 1: Xứng danh Tập đoàn kinh tế trụ cột

Sau hơn 10 năm hoạt động theo mô hình Tổng công ty 91, ngày 8-8-2005 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 198/2005/QĐ-TTg và Quyết định số 199/2005/QĐ-TTg tổ chức lại Tổng công ty Than Việt Nam và các đơn vị thành viên thành Tập đoàn Than Việt Nam, hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Đây là Tập đoàn kinh tế Nhà nước đầu tiên được thành lập.

Ngày 26/12/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 345/2005/QĐ-TTg thành lập Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam trên cơ sở Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam gia nhập Tập đoàn, khi đó là tổng công ty trực thuộc Bộ Công nghiệp.

Từ đây cán bộ công nhân, người lao động Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, lao động sáng tạo, tận tâm, tận lực trong sản xuất kinh doanh góp phần quan trọng cho sự phát triển của Tập đoàn trong suốt chặng đường 25 năm qua.

Trên hành trình 25 năm hình thành và phát triển, TKV luôn hoàn thành xuất  sắc nhiệm vụ Chính phủ giao, là doanh nghiệp nòng cốt chịu trách nhiệm sản xuất, cung ứng than cho nền kinh tế. Cùng với PVN, EVN, TKV là một trong ba trụ cột, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh cùng các vị đại biểu khách quý và lãnh đạo Tập đoàn TKV tại lễ tuyên dương các điển hình tiên tiến của TKV được tổ chức ngày 15-10-2019.

Đào 5,2 ngàn km đường lò, gấp 3 lần chiều dài đất nước Việt Nam

Trong lĩnh vực kinh doanh chủ lực công nghiệp than, TKV đã đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành than một cách bền vững để đáp ứng nhu cầu than trong nước ngày càng tăng cao, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế - xã hội.

So với năm đầu thành lập - tức năm 1995, sản lượng than toàn ngành mới chỉ ở mức 7 triệu tấn. Hiện nay, sản lượng than sản xuất bình quân hàng năm của TKV đạt từ 40-45 triệu tấn, tăng gấp 7 lần. Sau 25 năm xây dựng và phát triển, TKV đã khai thác được 700 triệu tấn, tiêu thụ 715 triệu tấn. Và để đạt được sản lượng này, TKV đã thực hiện đào 5,2 ngàn km đường lò, gấp 3 lần chiều dài đất nước Việt Nam, bình quân đào 206 km/năm và bóc xúc 3,4 tỷ m3 đất đá, bình quân 128 triệu m3/năm. Tổng doanh thu than từ 1,3 ngàn tỷ đồng năm 1994 tăng lên 62,26 nghìn tỷ đồng năm 2018, gấp 47,6 lần so với thời điểm Than Việt Nam ra đời. Năng suất lao động tính theo than nguyên khai năm 2018 đạt 572 tấn/người-năm, tăng 3,45 lần so với năm 1995.

TKV đã đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất để tăng năng suất lao động, tăng sản lượng khai thác và đặc biệt là tiết kiệm nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước. Với các mỏ hầm lò, TKV tăng cường sử dụng công nghệ khai thác hiện đại như hệ thống cơ giới hóa đồng bộ khai thác than cùng các hệ thống khai thác giếng đứng sâu đến -350 và - 500 mét. Tổng sản lượng than khai thác bằng cơ giới hoá toàn Tập đoàn từ năm 2002 đến hết 2017 đạt 12,75 triệu tấn.

Nếu như năm 2008, tỷ lệ khai thác than bằng CGH chỉ chiếm khoảng 3% tổng sản lượng than khai thác, thì đến nay đã tăng lên 15%. Số mét lò chống bằng công nghệ neo năm 2019 vượt trên 40.000 mét, đạt trên 18% tổng số mét lò đào. Cùng với đó, cơ giới hoá, tự động hoá cũng được đẩy mạnh áp dụng vào các khâu thông gió và kiểm soát khí mỏ, thoát nước trong hầm lò.

Với các mỏ lộ thiên, Tập đoàn đã đầu tư các loại ô tô vận tải chở đất đá có tải trọng lên đến 130 tấn, khai thông các mỏ lộ thiên để tạo ra những khai trường lớn hơn, từng bước băng tải hóa vận chuyển than, đất đá và sử dụng công nghệ vận tải liên hợp ô tô - băng tải tại Mỏ than Cao Sơn với công suất 20 triệu m3/năm để giảm giá thành và cải thiện bờ mỏ. Cùng với đó, Tập đoàn đẩy mạnh hiện đại hóa khâu sàng tuyển, dịch vụ cung ứng than...

TKV luôn chủ động ứng dụng tự động hoá, tin học hoá vào quá trình SXKD tạo năng suất cao.

Tăng cường chế biến sâu, tạo sức đột phá mạnh mẽ

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế, để đón đầu và thích ứng, TKV đã chủ động ứng dụng tự động hoá, tin học hoá vào quá trình SXKD và công tác quản lý điều hành. Từ cơ quan Tập đoàn đến các đơn vị đều đã quan tâm đầu tư mạng hạ tầng truyền thông số tốc độ cao, kết hợp xây dựng các trung tâm điều khiển giám sát tập trung hiện đại có khả năng bao quát toàn mỏ và điều khiển tập trung.

Hiện tại, TKV đang tiếp tục triển khai các phần mềm ứng dụng phục vụ công tác điều hành sản xuất như:  Phần mềm hoá đơn điện tử; phần mềm “Quản lý, dự báo tâm lý an toàn, sức khoẻ cho người lao động mỏ hầm lò”; vòng nhận diện cấp phát nhiên liệu thông minh tại các công ty than khai thác lộ thiên; “Hệ thống giám sát lưu chuyển than”…

Qua đó, TKV đã khẳng định vị trí vững vàng của ngành Than Việt Nam sẵn sàng đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp, đồng thời góp phần quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.

 Trong công nghiệp khai thác khoáng sản, TKV đã phát triển theo hướng tăng cường chế biến sâu, tạo ra sức đột phá mạnh mẽ, nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế của Tập đoàn. TKV đã đầu tư đồng bộ các tổ hợp khai thác đến chế biến kim loại bao gồm: Alumina, đồng, chì, kẽm, thiếc, gang thép, cromit và các kim loại khác. Mỗi năm, Tập đoàn sản xuất trên 11 nghìn tấn đồng tấm; 11 nghìn tấn kẽm thỏi, 180 nghìn tấn phôi thép.

Đặc biệt, với việc thực hiện thành công hai dự án thí điểm khai thác bauxite tại địa bàn chiến lược Tây Nguyên theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, TKV đã đặt nền móng cho nền công nghiệp mới của Việt Nam, đó là ngành công nghiệp chế biến alumin - nhôm. Năm 2018, TKV sản xuất và tiêu thụ 1,3 triệu tấn alumina, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt trên 520 triệu USD; đã đóng góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế Vùng Tây Nguyên. Các dự án bauxite đã bước vào giai đoạn có lãi.

Ghi nhận những thành tựu và đóng góp to lớn của Tập đoàn trong phong trào thi đua yêu nước, Đảng và Nhà nước đã trao tặng cho TKV nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Sao Vàng năm 1996; danh hiệu Anh hùng Lao động năm 2005; Huân chương Độc lập hạng ba năm 2014. Ở các đơn vị thành viên của TKV, có 15 tập thể, 7 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động; 10 tập thể được tặng Huân chương Độc lập hạng nhất; 14 tập thể được tặng Huân chương Độc lập hạng nhì; 28 tập thể được tặng Huân chương Độc lập hạng ba…
Thu Phương