Theo thống kê, hiện có 11.800 tàu cá, gần 500 tàu du lịch trên Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, hơn 6.700 phương tiện thủy nội địa khác thường xuyên hoạt động trên vùng biển là nguồn ô nhiễm dầu khi hằng ngày xả dầu thải chưa qua xử lý xuống biển. Ngoài ra, trên địa bàn có trên 130 cảng bến, 60 cửa hàng kinh doanh xăng dầu trên biển, hơn 200 cửa hàng xăng dầu trên đất liền, 2 kho xăng dầu với sức chứa 180.000m3. Kết quả quan trắc Vịnh Hạ Long cho thấy, vùng nước mặt và trầm tích ven bờ vịnh có mức độ ô nhiễm dầu - mỡ khoáng rất cao.

Cụ thể, vùng nước Cảng Cái Lân có hàm lượng dầu trong nước biển gấp 18 lần TCVN. Khoảng 1/3 diện tích mặt vịnh thường xuyên có hàm lượng dầu từ 1 - 1,73mg/l. Khu vực mặt nước Cảng tàu du lịch Bãi Cháy, Cửa Lục, khu vực tàu thuyền ngư dân neo đậu Cột 5, chợ Hạ Long I... thường xuyên có váng dầu nổi loang trên mặt nước. Đến nay, tỉnh Quảng Ninh xảy ra 11 vụ tràn dầu. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng ô nhiễm là do dầu tràn từ các phương tiện chứa, vận chuyển, các cơ sở sản xuất công nghiệp, cảng biển... Trong đó, phần lớn sự cố tràn dầu là do các yếu tố như: sự cố kỹ thuật, tai nạn đường thủy...

Hàng trăm tàu hoạt động trên Vịnh Hạ Long tiềm ẩn rò rỉ dầu.

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh, việc phòng ngừa và ứng phó với sự cố tràn dầu cần được ưu tiên hàng đầu trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị trên địa bàn. Bên cạnh việc xây dựng quy chế, các biện pháp như: đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, thiết kế đảm bảo phòng ngừa sự cố tràn dầu; đầu tư trang thiết bị vật tư xử lý sự cố như phao quây dầu, bơm hút, bồn chứa... được các cơ quan chức năng và các cơ sở sản xuất, kinh doanh tiến hành đồng bộ. Tiếp đó là việc tăng cường kiểm tra và lắp đặt các trạm quan trắc mức độ ô nhiễm dầu ở các bến cảng, khu neo đậu tàu thuyền trong vịnh.

Sở Tài nguyên và Môi trường thường xuyên phối hợp với Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam tổ chức các lớp tập huấn nâng cao kỹ năng ứng phó sự cố tràn dầu. Từ đầu năm 2014 đến nay, đã tiến hành 3 đợt tập huấn với trên 750 học viên, giúp các tổ chức, cá nhân nắm rõ các quy định của Nhà nước trong ứng phó sự cố tràn dầu; đồng thời tiếp cận các tình huống có thể xảy ra, tập luyện các kỹ năng xử lý, khắc phục sự cố hiệu quả ngay tại cơ sở của mình.

Tuy nhiên, việc thực hiện phòng chống, ứng phó với sự cố tràn dầu vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Bởi việc ứng phó sự cố tràn dầu là lĩnh vực mới, đòi hỏi đầu tư trang thiết bị lớn, kinh nghiệm thực tiễn và sự phối hợp sâu rộng giữa các cơ quan quản lý và các tổ chức, cá nhân. Bên cạnh các giải pháp về hạ tầng, kỹ thuật, việc tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức của cộng đồng về tác hại của ô nhiễm do tràn dầu và ô nhiễm môi trường biển cũng là một trong những biện pháp quan trọng.

Đăng Hùng