Cũng như người cha, GS.TSKH, Anh hùng LLVT Lê Thế Trung đã có mặt ở khắp mọi miền đất nước, từ vùng xa, vùng sâu tới hải đảo và nhiều chiến trường khốc liệt để cứu chữa, điều trị thương binh và người dân…

Giữa những ngày cả nước tổ chức trọng thể nhiều hoạt động tri ân thương binh, liệt sỹ, chúng tôi được nghe Thiếu tướng, GS.TS Lê Trung Hải kể lại một kỷ niệm không thể phai mờ với ông. 

Năm ấy, chiến tranh biên giới phía bắc diễn ra nóng bỏng, lằn ranh sự sống và cái chết rất mong manh, nhất là tại những cao điểm hầu như không ngày nào im tiếng súng. Ở cao điểm 400 thuộc huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, bác sỹ quân y Lê Trung Hải vừa ra trường được điều lên phục vụ chiến đấu, cứu chữa thương binh của sư đoàn 337. 

Trong một trận đánh, ông đã phải chứng kiến 4 chiến sĩ đặc công vừa hy sinh vì trúng pháo địch, một số đồng chí khác bị thương. Người bác sỹ trẻ không khỏi bị sốc nhưng đã nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, bắt tay ngay vào việc cấp cứu, điều trị thương binh… Ký ức về trận đánh đó mãi ghi sâu trong tâm khảm và cũng là sự thôi thúc, là động lực giúp GS.TS Lê Trung Hải nỗ lực trau dồi kiến thức, y đức để làm tốt sứ mệnh cao cả của người thầy thuốc.

Gia đình GS. TS Lê Trung Hải đã có ba đời làm nghề y

Thời gian công tác ở Ban Ngoại, Tiểu đoàn 24 (đóng tại hang Nhị Thanh, Lạng Sơn), BS Lê Trung Hải đã tham gia cấp cứu và xử lý vết thương cho hàng trăm thương binh. Có những lần ông và đồng nghiệp phải đứng mổ suốt ngày đêm vì nhiều thương binh từ tuyến trước chuyển về. Cuối chuyến công tác, ông đã có bản báo cáo tổng kết về “Cơ cấu thương tổn và công tác xử trí thương binh chiến đấu ở bình độ X” - đây chính là bài báo khoa học đầu tiên trong sự nghiệp cao quý của vị Thiếu tướng Quân y…  

Thân phụ của GS.TS Lê Trung Hải là GS.TSKH Lê Thế Trung từng tham gia Tự vệ thành Hoàng Diệu, rồi đi kháng chiến. Cách mạng và có lẽ cả số phận đã đưa ông trở thành thầy thuốc để cứu chữa bộ đội và nhân dân. 

GS Lê Thế Trung từng có mặt ở hầu khắp các chiến trường trong hai cuộc kháng chiến trường kì cũng như cuộc chiến tranh bảo vệ ở biên giới phía Bắc, phía Tây Nam… 

Chúng tôi đã nhiều lần hầu chuyện GS Lê Thế Trung và được nghe ông ôn lại những kỉ niệm chiến trường. Ông bảo, cho đến giờ, ông vẫn bị ám ảnh, vẫn thương một người đồng đội, một người học trò của mình. Trong chiến dịch Điện Biên phủ, GS Lê Thế Trung là Trưởng Ban Quân y Trung đoàn 209, Sư 312. Một y tá của ông bị mảnh pháo, giập nát tay trái và chân phải, buộc phải cắt bỏ để bảo toàn tính mạng. 

“Vừa cưa tay và chân của cậu ấy, tôi vừa thương đến trào nước mắt. Khuôn mặt cậu ấy còn rất trẻ, vậy mà đã mất đi một nửa cuộc sống rồi!”. GS Lê Thế Trung chiêm nghiệm: “Tình người giữa thầy thuốc với thương binh đã cảm động nhưng giữa thầy thuốc với thương binh là y tá của mình lại càng cảm động, xót xa”.

Vị GS già hồi tưởng lại những ngày nóng bỏng ở mặt trận Điện Biên Phủ: “Ngoài các dụng cụ quân y tối thiểu, chúng tôi phải mua những mảnh bầu khô, gáo dừa của dân, về cưa ra để làm dụng cụ cầm máu. Không có nhiều dịch truyền, thì đun nước cất, tự pha chế lấy. Ánh sáng mổ thì từ chiếc đèn pin treo phía trên, vì đèn dầu, đèn măng-sông không có. Anh em cứu thương, ngoài việc chuyển thương binh còn được giao thêm nhiệm vụ thu đồ cứu thương của địch. Mỗi khi lấy được đồ mổ, bông băng thì mừng lắm, vì có thêm điều kiện cứu chữa bộ đội mình”.

Ngoài việc cứu chữa, điều trị thương binh và bộ đội, GS Lê Thế Trung cũng là người tận tình cứu chữa cán bộ và người dân. Trong số những bệnh nhân mang ơn cứu mạng của GS Trung, có một người nổi tiếng là tác giả Quốc ca Việt Nam, nhạc sỹ Văn Cao. 

Cuối năm 1958, một đoàn văn nghệ sĩ đi thực tế Tây Bắc tìm hiểu tình hình xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội. Đoàn gồm những tên tuổi như các nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận và nhạc sĩ Văn Cao.

Tây Bắc thời kì này còn rất hoang sơ, ít dân, chưa có điện. Đi từ Hà Nội tới Điện Biên mất 4 ngày trời ròng rã trên ô tô vượt qua những đèo cao, dốc cả Quốc lộ số 6. Chặng đường rất gian nan nhưng họa vô đơn chí, khi tới thị trấn Hát Lót, chẳng may Văn Cao bị bục dạ dày. Bệnh nhân đặc biệt này được chuyển tới Thuận Châu, nơi có phòng mổ của Bệnh viện Khu tự trị mới được khánh thành.

Lúc này, thể trạng Văn Cao đã rất yếu, không nói được; Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi lo lắng, đứng ngồi không yên... Ca mổ cấp cứu do bác sĩ Lê Thế Trung chủ trì đã thắp đèn măng-sông để mổ; một y tá dùng đèn pin rọi vào ổ bụng giúp các bác sĩ thao tác. Nhạc sĩ Văn Cao đã thoát khỏi lưỡi hái của tử thần và còn sống thêm gần 40 năm nữa.

Khi GS Lê Thế Trung làm Giám đốc Quân Y viện 103, lại thêm một lần Văn Cao được cứu sống bởi đôi bàn tay vàng của ông. Nhớ lại kỉ niệm này, ông kể: Một hôm, tôi nhận được lá thư viết tay của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi các thầy thuốc Viện 103, nhờ chữa giúp nhạc sĩ Văn Cao bị căn bệnh lệch cột sống, rất đau đớn, không đứng được.

Nhập Viện 103 chừng nửa tháng thì người nhạc sĩ tài hoa bình phục gần như hoàn toàn, có thể đứng dậy, đi lại được. Khi xuất viện, Văn Cao đã tổ chức một đêm nhạc ấm cúng phục vụ các thầy thuốc và bệnh nhân, để tri ân những người đã cứu mình qua cơn hoạn nạn…

Thấm nhuần y đức và sứ mệnh cao cả của người thầy thuốc, cha con Thiếu tướng, GS.TSKH Lê Thế Trung và Thiếu tướng, GS.TS Lê Trung Hải luôn trăn trở, nỗ lực sáng tạo, tiên phong trong những lĩnh vực mới của ngành y. Họ đều trở thành những chuyên gia nổi tiếng và có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực ghép tạng… 

GS Lê Thế Trung và GS Lê Trung Hải cùng đón nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh

Một điều thật đặc biệt của Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ năm 2005 (đợt I), là cả hai cha con GS Lê Thế Trung - GS Lê Trung Hải đều được vinh danh với vai trò đồng tác giả Cụm công trình Ghép tạng!

Người con trai út của GS Lê Thế Trung là Đại tá, ThS Lê Trung Thắng, Phó Trưởng phòng Khoa học Quân sự kiêm Trưởng ban Công nghệ thông tin của Học viện Quân y cũng vinh dự nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2010 với vai trò là đồng tác giả của Cụm công trình Kết hợp Quân dân y. Đây là một điều vô cùng đặc biệt và hy hữu khi có 3 cha con cùng được trao giải thưởng Hồ Chí Minh…

Tác giả bài viết này vẫn giữ mối liên hệ với người đầu tiên được ghép thận ở Việt Nam là ông Lê Thanh Nghiêm (hiện trú tại tỉnh Phú Yên). Cuối năm 1992, trong lần đi khám tại Bệnh viện tỉnh Phú Yên, ông Nghiêm điếng người khi các BS chẩn đoán bị suy thận giai đoạn cuối. Với quyết tâm còn nước còn tát, ông được gia đình đưa ra Viện 103 chữa trị… 

Ngày 20-7-1993, ông Nghiêm được GS Tôn Thất Bách và GS Lê Thế Trung, GS Lê Trung Hải cùng nhiều GS, bác sĩ đầu ngành về ghép tạng tiến hành mổ ghép và ca đại phẫu đã thành công mĩ mãn. Gần 25 năm sau khi được ghép thận, sức khoẻ của ông Nghiêm vẫn ổn định, công việc và cuộc sống như bình thường và niềm vui nhân lên bội phần vì 6 năm sau khi được “tái sinh”, vợ chồng ông Nghiêm sinh thêm một cô con gái xinh xắn, khỏe mạnh. Người cho ông Nghiêm một quả thận chính là chị ruột, đến nay sức khỏe vẫn ổn định…

Sau gần 25 năm được ghép thận, ông Lê Thanh Nghiêm (bìa phải) vẫn khỏe mạnh. (Ảnh do nhân vật cung cấp)

Ca ghép gan cho bệnh nhi đầu tiên ở Việt Nam là cháu Nguyễn Thị Diệp diễn ra ngày 31/1/2004, có sự tham gia của  GS. Lê Thế Trung và GS. Lê Trung Hải cũng thành công tốt đẹp sau 16 giờ đồng hồ căng thẳng… Bé Diệp năm xưa vừa tốt nghiệp hệ trung cấp dược hệ dân y của Học viện Quân y. Người cho gan là bố đẻ của Diệp sức khỏe cũng ổn định. 

Cùng với những thành công về lĩnh vực Ngoại khoa dã chiến - Bỏng và Ghép tạng, GS.TSKH Lê Thế Trung còn thành công ở một số lĩnh vực khác như: Xây dựng chuyên ngành Y học Thảm họa - một vấn đề hết sức mới đối với ngành Y tế nước ta. Ông đã hoàn thành cuốn sách “Y học thảm họa” - tài liệu quan trọng với các nhà chuyên môn và đầy giá trị với người làm công tác quản lý, hoạch định chính sách về phòng chống thảm họa. Ông cũng đặc biệt quan tâm việc kết hợp giữa Y học hiện đại với Y học cổ truyền trong phòng và điều trị bệnh. Một loạt các công trình ở lĩnh vực này đã được đưa vào điều trị bỏng, làm lành vết thương, hỗ trợ điều trị ung thư...

Xuân Đinh Dậu 2017 qua, Thiếu tướng GS.TSKH Lê Thế Trung tròn 90 tuổi, ông đã vinh dự được trao tặng Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng cho những cống hiến nổi bật của mình. Cũng thật bất ngờ và tự hào khi được biết trong đại gia đình con cháu, dâu rể của GS Lê Thế Trung có đến 12 thành viên đã và đang công tác, cống hiến trong lực lượng vũ trang nói chung và trong ngành Quân y nói riêng…

GS Lê Trung Hải (bìa trái) và các đồng nghiệp thực hiện một ca ghép thận.

Cũng như người cha, GS.TS Lê Trung Hải luôn nỗ lực trau dồi y đức, y lý. Ông đã có nhiều năm tháng tu nghiệp ở các nước tiên tiến như Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản… và trở thành một trong những chuyên gia ghép tạng hàng đầu của Việt Nam. 

Với hàng trăm ca ghép tạng trong những năm qua, GS Lê Trung Hải và các đồng nghiệp đã góp phần “tái sinh” nhiều  người. Bên cạnh đó, GS Lê Thế Trung và GS Lê Trung Hải cùng các GS, bác sỹ ở Viện 103 còn “chuyển giao công nghệ” để các bệnh viện lớn ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh... tiến hành ghép tạng thành công nhiều ca.

Thiếu tướng, GS.TS Lê Trung Hải luôn say mê với sự nghiệp trị bệnh, cứu người

Trải qua nhiều năm cống hiến cho y học, cha con GS Lê Thế Trung - Lê Trung Hải và các thành viên trong gia đình đã cứu chữa, điều trị cho hàng ngàn, hàng vạn thương binh, bệnh binh, cán bộ và nhân dân... Những thành viên trong gia đình người thầy thuốc khả kính này đang và sẽ tiếp tục đảm đương sứ mệnh cao cả của người thầy thuốc. 

Khép lại bài viết này, chúng tôi muốn mượn hai câu thơ của GS John Le Van Hoa - ĐH Y khoa Chicago, Hoa Kỳ - Chủ tịch của Quỹ Hỗ trợ Mỹ - Việt và cũng là một người bạn thân thiết dành tặng gia đình của GS Lê Thế Trung:

“Tài đức song toàn, nhất gia nhị tướng

Nhân nghĩa hà sa, tam đại tứ y”.

Đại gia đình của Thiếu tướng GS.TS Lê Trung Hải đã có 3 đời làm nghề y và hiện có 2 vị tướng, nhiều người là Giáo sư, Tiến sỹ, Thạc sỹ; họ đã miệt mài cống hiến, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho bao người bệnh… GS.TS Lê Trung Hải có người bạn đời là Đại tá, PGS.TS Phan Việt Nga, Chủ nhiệm Bộ môn Nội Thần kinh, Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y, người luôn kề vai sát cánh, động viên và cảm thông, tạo mọi điều kiện để ông có thể cống hiến hết mình cho sự nghiệp…

Tiếp nối truyền thống gia đình, cháu đích tôn của GS Lê Thế Trung hiện là một Thượng úy, ThS.CK1 của Khoa Phẫu thuật Gan mật tuỵ, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Hiện BS Lê Trung Hiếu đang theo học Bác sĩ nội trú tại CH Pháp. Vợ của BS Hiếu là BS Đỗ Thị Hải Linh hiện công tác tại Khoa Tim mạch, Bệnh viện Hữu nghị. Người con trai thứ 2 của GS Hải là Thiếu uý, BS Lê Trung Đức hiện đang công tác tại Khoa Nội Thần kinh, Bệnh viện QY 103…



Trần Duy Hiển