Kết hợp tính giáo dục và xử lý, răn đe

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã xác định 4 nhóm giải pháp nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Trong đó, nhóm biện pháp về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng với 9 giải pháp cụ thể, là nội dung quan trọng nhằm góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và góp phần rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên trước những tác động của bối cảnh tình hình trong nước và thế giới đang có những diễn biến khó lường hiện nay.

Qua đó, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng có tác dụng quan trọng trong phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ đảng viên nói chung và cán bộ, đảng viên trong CAND nói riêng.

Trước bối cảnh mới, vấn đề nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên trong lực lượng CAND nhằm chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục.

Do vậy, đòi hỏi cấp ủy đảng các cấp phải tiến hành nhiều nội dung, biện pháp và phải tiến hành đồng bộ, quyết liệt, lâu dài. Trong đó, coi trọng thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng là giải pháp có ý nghĩa quan trọng và có tác dụng mạnh mẽ đối với công tác xây dựng đảng, xây dựng lực lượng CAND.

Nhận thức rõ vị trí, vai trò và ý nghĩa của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, những năm qua, Đảng ủy Công an Trung ương đã có những chỉ đạo sát sao, kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng và sức mạnh của công tác này. Do vậy, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng trong CAND nói chung và trong Đảng bộ Công an Trung ương nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng và hiệu quả được nâng lên rõ rệt. 

Chỉ tính riêng trong Đảng bộ Công an Trung ương nhiệm kỳ 2010-2015, cấp ủy, ban thường vụ và ủy ban kiểm tra các cấp đã tiến hành kiểm tra chuyên đề 1.199 tổ chức đảng và 1.182 đảng viên; giám sát chuyên đề 713 tổ chức đảng và 975 đảng viên. Kết quả các cuộc kiểm tra, đã phát hiện những khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng và đảng viên, thi hành kỷ luật đối với một số tổ chức, cá nhân vi phạm.

Bên cạnh đó, Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương đã phối hợp với ủy ban kiểm tra các tỉnh, thành ủy trực thuộc Trung ương tổ chức hàng trăm cuộc làm việc trực tiếp để nắm tình hình thực hiện quy chế phối hợp, nhất là những đơn, thư khiếu nại, tố cáo đối với cán bộ công an thuộc diện tỉnh, thành ủy và Đảng ủy Công an Trung ương quản lý; phối hợp thực hiện hàng chục cuộc kiểm tra, giám sát, giải quyết tố cáo có liên quan đến ban thường vụ, các đồng chí Giám đốc, Phó Giám đốc công an một số tỉnh, thành phố.

Thực tiễn đã khẳng định vị trí, vai trò, tác dụng của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng trong quá trình thực hiện chức năng lãnh đạo của Đảng, trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng CAND trong sạch, vững mạnh, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cụ thể là:

Thứ nhất, công tác kiểm tra, giám sát không ngừng khẳng định và nâng cao vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu tổ chức đảng các cấp đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị; đồng thời giúp cho việc nắm bắt diễn biến tư tưởng và quản lý đội ngũ cán bộ đảng viên của cấp mình được sâu sát hơn.

Chủ động nắm bắt và giải quyết kịp thời những vấn đề vướng mắc về tâm tư, nguyện vọng và tư tưởng của cán bộ đảng viên; chủ động uốn nắn những suy nghĩ, hành động, việc làm lệch lạc. Qua đó củng cố và nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên do mình quản lý.

Thứ hai, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng giúp cho việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định của cấp trên và các quy chế, quy trình công tác được thực thi nghiêm túc.

Đồng thời thông qua thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát giúp ngày càng hoàn thiện hơn các chỉ thị, nghị quyết và quy chế, quy trình công tác đó; giúp cho việc tổ chức thực hiện được chặt chẽ hơn, sâu rộng hơn; tạo thành một hành lang pháp lý, cơ sở vững chắc và không thể thiếu đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng, góp phần nêu cao ý thức, thái độ, tinh thần trách nhiệm và tính quân phong, quân kỷ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong CAND.

Thứ ba, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng một mặt nhắc nhở, chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế, uốn nắn những thiếu sót, khuyết điểm và xử lý những vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên.

Mặt khác động viên, biểu dương những tổ chức đảng và đảng viên tích cực, những việc làm hay, có chất lượng. Qua đó, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng vừa mang tính giáo dục, vừa phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với những tổ chức, cá nhân có sai phạm, góp phần rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ đảng viên.

Thứ tư, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng góp phần thiết thực xây dựng đảng bộ, chi bộ và đơn vị trong sạch, vững mạnh; phát huy tinh thần nêu gương, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình; phát huy hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ... từ đó giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ lãnh đạo chỉ huy các cấp luôn xây dựng cho mình lối sống trong sạch, lành mạnh, kỷ cương, kỷ luật, tự giác và nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên.

Thứ năm, qua công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng là một trong những phương thức phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng hiệu quả; giúp cho cấp ủy, thủ trưởng đơn vị nắm vững tình hình, uốn nắn kịp thời những biểu hiện lệch lạc, sai phạm; giải quyết kịp thời các vấn đề khó khăn, vướng mắc, bất cập về công tác xây dựng Đảng.

Qua kiểm tra, giám sát, ngoài việc tìm ra những ưu điểm, cách làm hay để phát huy, đồng thời chỉ rõ những khuyết điểm, hạn chế của cấp ủy, lãnh đạo đơn vị, của cán bộ, đảng viên trong lực lượng CAND để kịp thời sửa chữa, khắc phục.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra rằng công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm; nội dung sinh hoạt đảng ở nhiều nơi còn đơn điệu, hình thức, hiệu quả chưa cao; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp, thậm chí có nơi mất sức chiến đấu; công tác tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ, đảng viên còn yếu kém; nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiền phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở; tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao…

Kiên quyết xử nghiêm hành vi lợi dụng vị trí công tác để trục lợi

Để góp phần giữ vững và nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong CAND, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản:

Một là, tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp, trước hết là người đứng đầu cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo quan trọng của Đảng, góp phần đảm bảo đường lối, chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng được thực thi và thực thi có hiệu quả.

Đây là, công cụ hữu hiệu để phát huy vai trò lãnh đạo cũng như đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng các cấp. Do vậy, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy các cấp luôn phải được đặt lên hàng đầu. Thông qua sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức giúp cho hiệu quả, chất lượng của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng ngày càng được nâng lên.

Từ đó nâng cao vị thế, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát, biến công tác này trở thành một hoạt động không thể thiếu đối với công tác xây dựng Đảng trong mọi giai đoạn cách mạng và trở thành một nội dung trọng yếu trong giáo dục, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Hai là, công tác kiểm tra, giám sát cần tập trung bảo vệ đường lối, quan điểm, nghị quyết, chỉ thị, Điều lệ Đảng; bảo vệ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Thông qua công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng cần tăng cường tham mưu với cấp ủy các cấp trong việc hoạch định, bảo vệ chủ trương, đường lối, chính sách trên lĩnh vực bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, xây dựng lực lượng CAND, thể hiện sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát cần tập trung đấu tranh, phản bác với những tư tưởng, quan điểm chống phá Đảng, Nhà nước; kiên quyết, mạnh dạn chỉ ra những dấu hiệu ban đầu của biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nhằm phòng ngừa, ngăn chặn ngay từ khi mới manh nha, góp phần xây dựng và bảo vệ Đảng.

Ba là, nâng cao năng lực, trình độ của ủy ban kiểm tra và đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát ở các cấp. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng là cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, phức tạp giữa cái đúng với cái sai, cái tiến bộ với lạc hậu, giữa cái tích cực với cái tiêu cực trong nội bộ Đảng. Do vậy, các cấp uỷ đảng cần chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ về số lượng, chất lượng cao, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ.

Về lâu dài, cần có chiến lược tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát có đủ phẩm chất, năng lực, kỹ năng công tác theo hướng chuyên nghiệp hoá kết hợp với không ngừng củng cố, nâng tầm và nâng cao vị thế của ủy ban kiểm tra các cấp. 

Chú trọng bồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực nghiệp vụ, phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách. Quan tâm tạo điều kiện về phương tiện, vật chất cho ủy ban kiểm tra, cơ quan ủy ban kiểm tra thực hiện nhiệm vụ. Mặt khác, cần tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát để bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ kiểm tra Đảng; kiên quyết xử lý nghiêm những người lợi dụng vị trí công tác để trục lợi, làm sai chức trách, nhiệm vụ.

Bốn là, phát huy tính tự giác của cán bộ, đảng viên trong công tác kiểm tra, giám sát. Cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp trong CAND cần kiên trì động viên, giáo dục, thuyết phục, khơi dậy ý thức tự giác để đảng viên phát huy tính trung thực, thẳng thắn trong tự phê bình và phê bình, nhận rõ ưu điểm, khuyết điểm của đảng viên, tổ chức đảng. Duy trì thực hiện tốt nền nếp chế độ sinh hoạt, phát huy dân chủ, bảo đảm cho mọi cán bộ, đảng viên được thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời các nội dung liên quan đến hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng. Chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; đảm bảo tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu trong kiểm tra, giám sát. Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của đảng viên; động viên cán bộ, đảng viên nói thẳng, nói thật, tạo ra không khí chân tình, cởi mở, không áp đặt ý kiến cá nhân.

Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị và tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên để họ sẵn sàng đương đầu với những tác động tiêu cực của xã hội, của các thế lực thù địch; hình thành tâm thế cá nhân chủ động ứng phó với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Năm là, tiếp tục nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện, đổi mới các quy định, quy trình về công tác kiểm tra, giám sát. Để phù hợp với đặc thù công tác của Ngành, những năm qua, căn cứ các văn bản và hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương đã nghiên cứu, xây dựng nhiều văn bản liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện được thống nhất.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy còn tồn tại những quy định chưa cụ thể, chưa rõ ràng, chưa sát với thực tế và đặc thù của lực lượng CAND nên khó áp dụng và vận dụng thực hiện; một số quy trình quy định còn chưa được đơn giản hóa, có nhiều nội dung trùng lặp.

Do vậy, thông qua thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng, cấp cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp cần chủ động nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất xây dựng mới các quy trình, quy định cho phù hợp với đặc thù công tác của ngành Công an và yêu cầu, nhiệm vụ của công tác kiểm tra, giám sát trong tình hình mới.

Sáu là, tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa ủy ban kiểm tra các cấp với cơ quan thanh tra, tổ chức cán bộ. Giữa ủy ban kiểm tra với cơ quan thanh tra, tổ chức cán bộ các cấp có liên hệ mật thiết với nhau trong việc phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh với những sai phạm của tổ chức đảng, đảng viên và cán bộ, chiến sỹ trong việc chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đặc biệt là trong giải quyết đơn thư tố cáo, khiếu nại, phòng chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, quan liêu…

Do vậy, việc tăng cường chặt chẽ mối quan hệ giữa ủy ban kiểm tra với các cơ quan chức năng các cấp có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn lực lượng CAND. Trước mắt cần tập rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy chế phối hợp theo hướng quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bên liên quan. Đẩy mạnh việc trao đổi, cung cấp thông tin, tài liệu và tích cực tham gia trực tiếp vào các cuộc thanh tra, kiểm tra, giám sát chuyên đề.

Ngoài ra, ủy ban kiểm tra các cấp trong CAND cần tiếp tục duy trì và thực hiện tốt quy chế phối hợp với ủy ban kiểm tra cấp tỉnh và cấp huyện trong kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc đảng bộ Công an, Cảnh sát phòng cháy chữa cháy địa phương.

Bảy là, công khai kết quả kiểm tra, giám sát để góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái,"tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Thông thường kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên nào thì chỉ công bố đến tổ chức đảng và đảng viên đó. Những tồn tại, hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm, thậm chí vi phạm cũng chỉ được xem xét, kiểm điểm trong phạm vi nhất định mà không được công khai với lý do đảm bảo yêu cầu chính trị, nghiệp vụ và công tác quản lý nội bộ.

Việc thông báo kết quả kiểm tra, giám sát trong phạm vi hẹp làm hạn chế tính răn đe, phòng ngừa, ngăn chặn các sai phạm tương tự ở các tổ chức đảng và đảng viên khác. Do vậy, công khai kết quả kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm là một việc làm cần thiết và nên có cơ chế để tổ chức thực hiện cho phù hợp vừa đảm bảo công tác nội bộ, vừa phát huy hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng trong phòng ngừa suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Trước bối cảnh công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng đang đứng trước nhiều thách thức đến từ bên trong và bên ngoài; đội ngũ cán bộ, đảng viên trong CAND chịu sự tác động mạnh mẽ từ  mặt trái của nền kinh tế thị trường, mặt tiêu cực của quá trình hội nhập... thì vấn đề rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, ngăn chặn suy thoái, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ đảng viên luôn phải được cấp ủy, người đứng đầu tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp quan tâm.

Trong đó, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng cần được coi là một nhóm giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm góp phần củng cố sự kiên định, vững vàng về chính trị tư tưởng, củng cố lòng tin của đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Thiếu tướng Nguyễn Xuân Ngư, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương